Đường lên Hòn Ngôi

 •  14:48 thứ năm ngày 12/08/2004

Hồ thế
Hôm nay có dịp qua Đèo Ngang, qua cửa ô tô tôi lại nhìn về hướng Tây; nơi ấy có xóm Bưởi Rỏi, có đỉnh Hòn Ngôi và có những ngày thật đẹp...
Đoàn xe thông tin viba vừa đến xóm Bưởi Rỏi thì đằng Đông cũng vừa hửng sáng. Mọi người quá mệt mỏi lao vào cái lán tồi tàn mới làm để ngủ một giấc, nhất là cánh lái xe qua một đêm thức trắng căng mắt, vần tay lái vật nhau với đường sá dưới ánh đèn gầm càng khao khát một giấc ngủ hơn, nhưng trưởng đoàn Lê Tư lạnh lùng ra lệnh: “Phải chuyển thiết bị xuống khỏi xe, ngụy trang và sơ tán, đoàn xe ngay lập tức để tránh máy bay địch phát hiện”. Anh em vùng dậy làm ngay sau kịp văng ra vài câu chửi thề cho đỡ mệt. Khi đã bốc hết thiết bị xuống, cất giấu, sơ tán, ngụy trang cả đoàn 9 chiếc xe thì máy bay địch đã bắt đầu quần đảo trên trời. Đó là những chiếc máy bay do thám của Mỹ nhằm phát hiện ra những mục tiêu cần đánh phá, những đoàn xe ra vào chiến trường. Từ lúc đó trên bầu trời không bao giờ ngớt tiếng máy bay, tiếng bom đạn địch đánh phá vào khu vực Đèo Ngang và đường chiến lược 22. Mặc bom đạn địch, chúng tôi cũng ngủ một giấc để lấy lại sức chiều bắt đầu làm việc. Nhưng rồi không ngủ được lâu, chỉ gần 2 tiếng đồng hồ sau anh Lê Tư lại gọi cả đoàn dậy để bàn kế hoạch và phân công nhiệm vụ chuẩn bị đưa thiết bị RVG 950 lên đỉnh Hòn Ngôi. Một tình huống gay cấn đã nảy sinh, hết gạo. Bộ phận tiền trạm báo cho đoàn biết mấy hôm nay địch đánh phá dữ dội vào đường chiến lược, rải cả bom bi vào đường tránh, đường dân sự nên không thể ra thị tứ Quảng Châu mua gạo được. Cả đoàn công tác gần 30 người hành quân cấp tốc từ Hà Nội vào Quảng Bình chỉ mang theo tiền, tem phiếu không mang theo lương thực dự trữ. Hồi đó đi đâu có đem theo tem phiếu là ổn, không ai nghĩ phải cõng vác lương thực đi theo. Nếu không có gạo thì làm sao đủ no để chuyển hơn hai tấn thiết bị lên đỉnh núi cao 720 mét vào sáng mai? Có người đề xuất tạm đến dân mượn gạo. Dân ở đây cực kỳ tốt nhưng có nên làm như thế không? Vì xóm Bưởi Rỏi này dân rất nghèo, họ cũng ăn cơm độn, nếu có mượn được đủ số gạo cũng phải hỏi cả xóm. Thôi phải cử người đi mua gạo là tốt nhất. “Cần có người xung phong đi mua gạo”, anh Lê Tư khẳng định. Sau đó anh hỏi: “Ai có thể đi được?” “Tôi! Tôi!...” nhiều người trong đoàn đã giơ tay xin đi. Anh Lê Tư nhìn chúng tôi trìu mến, gật đầu hài lòng về sự nhiệt tình và dũng cảm của nhân viên mình. Anh biết rất rõ từng người, họ là những kỹ sư, kỹ thuật viên nhiều năm lăn lộn trên các tuyến viba được điều động đến đây xây dựng trạm viba trên đỉnh Hòn Ngôi để mở tuyến thông tin liên lạc với Hà Nội và Vĩnh Linh phục vụ cho chỉ đạo của Đảng và Nhà nước... Tình thế bắt buộc, anh đã chọn tôi, anh Bồng, anh Nghinh và vài người nữa làm nhiệm vụ này. Và vội mấy bát cơm độn bắp với cá khô và muối mè, chúng tôi tất tả lên đường. Hành trang là mấy chiếc xe đạp cà tàng, vài cái bao tải bưu chính cũ, một ít tiền và một cơ số tem phiếu thời chiến. Được một người dân chỉ dẫn, chúng tôi theo đường mòn hướng Đông đi miết. Quảng Bình năm 1973, tháng 4, mới 8 giờ sáng mà mặt trời đã xỉa xói vào mặt. Máy bay Mỹ vẫn quần đảo trên đầu, xa xa vọng lại tiếng rền vang của bom tấn, xen lẫn tiếng lụp bụp của bom bi, đáp lại là tiếng gầm của pháo cao xạ nghe chát chúa.
Nghe dân nói, trời Quảng Bình không lúc nào vắng máy bay Mỹ. Không có chuyện chờ ngớt tiếng máy bay rồi mới đi. Chúng tôi vừa đi vừa tìm đường, đường ở đây có nhiều lối luồn lách qua bụi bờ. Chúng tôi phải đi từng người, cách nhau ít nhất là 50 mét. Tôi đi đầu. Bỗng có một cô dân quân ngăn lại: “Các anh dừng lại, đằng trước địch vừa rải bom bi, chắc chắn có bom nổ chậm, đi tiếp sẽ nguy hiểm”. “Thế khi nào có thể đi được?”, tôi hỏi. “Ngày mai, khi công binh dọn xong bãi bom này!”, cô đáp bằng một giọng Quảng Bình dễ thương nhưng lạnh lùng. Tôi nóng lòng kéo anh em lại bàn. Chẳng có phương án nào khác là phải đi, phía sau anh Lê Tư và cả đoàn đang chờ gạo, thực phẩm, chúng tôi sẽ phải đem về và xa hơn nữa là tuyến thông tin viba đang nóng lòng đợi trạm viba Hòn Ngôi phát sóng. ở chiến trường, thông tin liên lạc là trên hết nên khi nghe chúng tôi trình bày rõ yêu cầu và quyết tâm, cô dân quân không cản nữa mà hướng dẫn đường đi và căn dặn cẩn thận, chúc lên đường may mắn.
Tôi bàn với anh em phương án đi qua đoạn có bom bi nổ chậm. Tôi đi trước dò dẫm, nếu thấy an toàn thì tôi ngoắc anh em tập trung chạy nhanh theo. Cứ thế chúng tôi đã đi gần hết đoạn đường nguy hiểm mà chưa gặp trở ngại gì mặc dù tôi đã thấy nhiều hố bom bi như những chiếc thúng to và những quả bom bi con không nổ lác đác bên đường. Bỗng trước mặt tôi có một khoảng đất trụt xuống như hình chiếc nón ngửa. Đoán là bom bi sắp nổ, tôi hò anh em chạy ngược lại được khoảng 50 mét, nghe đằng sau “bụp” một tiếng, ngoái lại thấy đất tung lên như một cây rơm, thế là thoát chết.
Luồn lách mãi đến trưa, chúng tôi cũng đến được thị tứ Quảng Châu gần đường 1, bên cạnh phà Ròn. Một thị tứ thời chiến gần Đèo Ngang đơn sơ, hoang vắng. Chúng tôi tìm đến được cửa hàng lương thực, thực phẩm thì cũng vừa lúc máy bay địch đến oanh tạc ở đây. Chẳng có ai xuống hầm trú ẩn. Máy bay trinh thám Mỹ thấy một chiếc rơmoóc đã được ngụy trang trong bụi cây nhưng thòi hai bánh sau ra. Thế là kêu phản lực đến quần đảo, bắn rốc-két và ném bom. Chỗ oanh tạc cách cửa hàng lương thực, thực phẩm khoảng vài trăm mét. Địch đã đánh có mục tiêu nên không bao giờ đánh sang chỗ khác. Mọi người cứ tiếp tục làm việc vì biết đó là một trong những cái ngu của thằng Mỹ. Tôi đang loay hoay dựng xe đạp thì nghe vèo một cái, một mảnh bom vụt qua trước mặt cắm phập vào tà luy đường. Lại suýt chết. Tôi thở phào nhẹ nhõm.
Buổi chiều, sau khi đã bao gói gạo, thực phẩm và chất lên lũ xe đạp buộc kỹ, chúng tôi lăn ra nghỉ, lấy sức gần tối quay về trại. Chúng tôi vừa phải đạp, vừa đẩy xe theo đường chiến lược 22 - một con đường đầy nguy hiểm. Dân ở đây có kinh nghiệm là vào khoảng chập choạng tối, máy bay địch ít hoạt động trên đoạn đường này vì vào giờ đó trời không sáng nhưng cũng chưa kịp tối hẳn, có thả pháo sáng địch cũng khó phát hiện được mục tiêu đánh phá.
Chiều mát, trời chớm hoàng hôn, chúng tôi hè nhau đẩy xe ra đường quốc lộ 22. Vừa ngồi lên xe, ráng đạp được vài chục mét, tôi nghe “phựt”, xe đứng sựng lại, đùi đĩa quay tròn. Tôi nhìn xuống. Đứt xích! Đứt xích rồi! Lúc này tôi mới để mắt nhìn kỹ lại chiếc xích xe của mình, trời ơi các mắt xích đều mòn vẹt cả. Tôi hoang mang, nhưng kịp trấn tĩnh cùng anh em chạy ngược lại thị tứ Quảng Châu. Vẫn có một hiệu sửa chữa xe đạp mở cửa, mừng quá! Người chủ tiệm nhìn cái xích tôi đưa lắc đầu. ông ta đem ra một chiếc xích Trung Quốc trong hộp mới cứng và bảo: “Chỉ còn một chiếc duy nhất!”. Tôi như được ông ta vứt kịp cho cái phao, vội chộp lấy. Giá chiếc xích đúng bằng một tháng lương kỹ sư vô tuyến khởi điểm của tôi. Chúng tôi gom tiền lại trả và không quên lấy giấy biên nhận của người chủ tiệm. (Sau này có dịp về lại Hà Nội, đến văn phòng cơ quan xin thanh toán tiền chiếc xích, ông kế toán trưởng lạnh lùng nhìn tờ giấy biên nhận viết nghệch ngoạc rồi lắc đầu. ông ta coi như bao tờ biên nhận không hợp lệ khác, còn tôi cố mang nó từ tuyến lửa về. Hai ý nghĩ không gặp nhau, tôi chợt hiểu mình đã mất toi một tháng lương; tôi mất nhưng chiếc xe đạp công được một chiếc xích mới, cái được đó vẫn đẹp hơn nhiều).
Tối hôm ấy chúng tôi đã vượt ngót 10 cây số an toàn. Mặc dù, trên đường chúng tôi gặp bom đạn lổn nhổn, hai bên vệ đường nhiều xe tiếp viện của ta bị địch đánh cháy hỏng nằm rải rác, nhiều lái xe, bộ đội, dân công hy sinh. Tôi chợt nghĩ về sự hy sinh lớn lao của dân tộc. Việc gian khổ mấy ngày qua của chúng tôi chẳng thấm tháp gì! Cả trạm reo hò đón chúng tôi trở về. Anh Lê Tư mừng ra mặt nhìn chúng tôi một cách soi mói như không thể tin chúng tôi đã đem được cả người và gạo nguyên vẹn về đây. Anh ưu tiên cho chúng tôi tắm rửa, nghỉ ngơi để chuẩn bị tờ mờ sáng đưa thiết bị lên núi.
Cả ngày các anh chị trong đoàn đã phân hơn 2 tấn thiết bị ra thành 40 kiện để vừa khiêng, vác, cõng lên đỉnh Hòn Ngôi. Một tin vui sẽ có một trung đội dân quân đến giúp sức. Ba giờ sáng, cả đoàn thức dậy, ăn uống no nê, vừa nghe anh Lê Tư phổ biến kế hoạch, phân công người khiêng vác, vừa bàn cách đi thế nào cho tốt.
Vào đầu những năm 70, khi quân và dân miền Nam đẩy mạnh cuộc tiến công và nổi dậy, giáng cho Mỹ ngụy những đòn chí tử, giành thế chủ động trên chiến trường, miền Bắc, hậu phương lớn mở đường dốc sức chi viện cho miền Nam thì đế quốc Mỹ tăng cường leo thang không kích ác liệt hơn, phá hoại miền Bắc hòng vừa làm suy yếu tiềm lực kinh tế, quốc phòng của ta vừa ngăn chặn sức chi viện. Trung ương và ngành Bưu điện chủ trương thiết lập các tuyến truyền dẫn đường trục từ Hà Nội đến Vĩnh Linh và có thể vào sâu hơn nữa để phục vụ cho chỉ đạo kháng chiến. Trung tâm viba thuộc Cục Điện chính được giao nhiệm vụ lập tuyến truyền dẫn cơ động, hỗ trợ cho tuyến dây trần tải ba. RVG 950 là thiết bị vô tuyến tiếp sức nhiều kênh (do CHDC Đức chế tạo) là loại hiện đại và tiện lợi nhất lúc bấy giờ được sử dụng lắp đặt tuyến truyền dẫn này. Hòn Ngôi, một đỉnh núi cao phía Tây vùng núi Đèo Ngang đã đi vào lịch sử huy hoàng của viba từ đó. Hòn Ngôi có vị trí đặc biệt quan trọng trong tuyến này, vì là đỉnh cao 720 mét so với mặt biển nên có thể thu phát sóng viba cự ly xa đến 100 km. Hòn Ngôi lại có rừng già che phủ ngay trên đỉnh, cách xa Đèo Ngang (đoạn đường 1 thường xuyên bị địch đánh phá) nên rất tiện cho việc ngụy trang thiết bị che mắt địch.
Tờ mờ sáng, chúng tôi chuẩn bị xuất phát lên núi thì một trung đội dân quân trẻ trung, gan góc và hết sức nhiệt tình đến giúp sức. Họ là những thanh niên nông dân vừa chiến đấu, vừa sản xuất ngay tại quê nhà. Hầu như những thiết bị nặng nhất trung đội này đảm nhận cả. Đòn khiêng là những ống trụ
an-ten nhôm, dây buộc gánh là dây co trụ an-ten bằng chất nilông chắc. Các ngăn máy được rút ra khỏi giá cõng khiêng cho nhẹ. Duy chỉ có ắc quy chì 100Ah thì không thể chia nhỏ được, đành để vậy thay nhau khiêng, nặng có đến 90 kg. Tôi khiêng một giá máy và góp sức cùng khiêng ắc quy. Chúng tôi chia từng tốp nhỏ, luồn lách leo qua từng bụi lau, sim, chà là đầy gai. Là dân viba chuyên môn trèo đồi đã quen cách leo này, tuy nhiên đây là núi cao nhất, không có đường mòn lên, đường dốc quanh co, khúc khuỷu trên bốn cây số sẽ là một sự thử thách gay gắt, một sự phấn đấu phi thường. Chúng tôi đã có những trận thở ào ào, rồi mệt, rồi nghỉ chẳng biết bao nhiêu lần như thế mà vẫn chưa đi được nửa đường. Trên đầu, máy bay địch vẫn quần đảo. Những cơn khát ập đến và những bi đông nước chuẩn bị sẵn vơi dần... Có những dốc vừa leo, vừa khiêng thở dốc bở hơi tai. Lúc xuất phát còn nói cười vui vẻ, càng về sau cấm nói được câu nào. Khi đã đến lưng chừng núi, phát hiện ra một đám vô khối dâu rừng, chúng tôi bảo nhau nghỉ xả hơi và hái dâu ăn. Dâu ở đây nhiều vô kể, chín mọng, đỏ tươi hơn dâu tằm. Dâu chín từng chùm, ken dày trong các kẽ lá, loang ra cả bụi lúp xúp như những cái nong đỏ rực. Những bụi dâu lại kết với nhau thành từng đám. Nhìn như những đám mây hồng lượn theo gió bay sà trên sườn núi tuyệt đẹp. Tức cảnh, tôi đọc câu thơ:
“Dâu ngọt chua thơm chín mọng giữa trời
Dâu chỉ giải khát cho người trèo Hòn Ngôi”
Quả thật nếu không có chiến tranh, không có tuyến viba qua đây, chúng tôi dễ gì có điều kiện đến xóm Bưởi Rỏi leo lên núi cùng ăn dâu. Những chùm dâu chín mọng thật kỳ diệu, hương thơm mát, vị chua ngọt thanh thanh nhẹ nhàng đã làm chúng tôi hết mệt mỏi và hình như sức lực tăng lên gấp bội. Chúng tôi lại khuân vác, leo tiếp chặng đường còn lại. Lần này sao cảm thấy nhẹ hơn, không hiểu do chất bổ của dâu làm tăng lực hay do sức hút của quả đất yếu dần với các thiết bị khi đã lên cao hay do ý chí của con ngưòi đã vượt lên nặng nhọc. Lối đi lúc này dễ chịu, đều là đất trống thoáng rộng toàn cỏ tranh, cỏ ngả một màu xanh nhạt đang vào mùa trổ hoa trắng xám, loang tít đến tận đỉnh núi; cả vùng cỏ rập rờn, xoáy lượn theo gió, trông xa như sóng biển từng đợt, từng đợt vỗ vào đỉnh núi. Đứng dưới nhìn thẳng lên, Hòn Ngôi như một cái đầu nửa trọc, nửa rậm, nửa rậm đó là rừng già. Ráng một chặng cuối cùng, gần trưa chúng tôi đã chiếm lĩnh đỉnh núi. Mọi người thở phào nhẹ nhõm sau hơn 4 giờ nỗ lực khuân vác, leo trèo.
Nghỉ một tí lấy sức, anh Lê Tư lại đốc thúc chúng tôi lao vào công việc. Vỏ trạm viba được làm trước là một cái nửa nhà, nửa hầm nấp dưới tán rừng cổ thụ. Tôi nhìn ái ngại, nơi đây sẽ là chỗ đặt máy, vận hành và nghỉ ngơi của kỹ thuật viên. Bất giác tôi nghĩ đến những trạm viba khác cũng nằm trên đỉnh núi, đỉnh đồi hoặc cồn cát nắng chang chang. Kỹ thuật viên là những cô gái, chàng trai còn rất trẻ, họ chỉ làm bạn với nắng núi, mưa rừng, gió cát... Họ hạnh phúc khi tín hiệu viba thông suốt, lo lắng, xót xa khi một cuộc điện thoại, một bức điện báo teletip chưa được tín hiệu viba chuyển đi, ăn uống và mọi sinh hoạt khác bấp bênh, cực kỳ thiếu thốn.
Thiết bị RVG950 dã chiến cơ động, được tháo lắp nhanh chóng, trong điều kiện đất bằng nếu chuẩn bị kỹ thì sau 30 phút đã lắp xong cả máy và trụ an-ten. Tuy nhiên tại khu đất rừng già hẹp này sẽ khó khăn và lâu hơn. Chúng tôi chia thành ba tốp: lắp và sấy máy; dựng trụ, lắp an-ten, kéo phiđơ; lắp nguồn ắc quy, đóng hệ thống tiếp đất. Anh chị em dân quân tản ra giúp chúng tôi bưng bê thiết bị. Sau hơn một giờ đồng hồ các tốp đều đã làm xong phần việc của mình và chuẩn bị chỉnh máy thu phát. Trước đó, máy nổ đặt ở lán dưới xóm Bưởi Rỏi đã vận hành cấp điện cho trạm trên núi qua đường cáp điện lực được rải thẳng hơn 1000 mét. Điện thoại liên lạc trên dưới cũng đã thông, chúng tôi hồi hộp chờ nhận liên lạc từ trạm viba Rú Nhược (Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh). Giờ này, bên ấy chắc mọi người cũng hồi hộp không kém. Sau khi đã kiểm tra các mức điện nguồn thấy đều đạt yêu cầu, tôi bật công tắc, mở máy thu, máy phát. Đồng hồ công suất máy phát đã đạt tín hiệu phát sóng viba cực đại, đồng hồ máy thu đã nhích lên nhưng rất yếu, tôi yêu cầu anh Lê Tư cho chỉnh lại hướng
an-ten. Chúng tôi reo hò khi thấy đồng hồ chỉ lực thu tăng vọt lên. Như vậy an-ten đã được chỉnh đúng hướng. Sóng viba hai bên đã gặp nhau. Từ xa xôi phía Cẩm Xuyên, một giọng con gái reo lên: “T19 đây, T19 đây, nghe rõ, nghe rõ, nghe rất rõ!”. Bên này, chúng tôi yêu cầu nối tiếp cho gặp Hà Nội nhưng anh Lê Tư bảo khoan đã, phải từ từ điều chỉnh với từng trạm một, từ đây ra Hà Nội có đến hơn chục trạm. Chúng tôi lần lượt thử tín hiệu thu phát với tất cả các trạm. Khi chúng tôi và Hà Nội đã nghe nói được với nhau rõ ràng thì nỗi vui mừng khôn xiết ập đến làm nghẹt cổ họng, ai cũng mừng như muốn phát khóc. Mọi người thay nhau tranh thủ chuyện trò với các bạn ở trạm viba khác qua kênh nghiệp vụ riêng. Nhất là những anh có vợ, có người yêu đang trực máy ở phương xa thì chuyện trò càng da diết, vui sướng hơn. Anh Nghinh có cô người yêu tên Thuý ở một trạm Nam Hà, nhớ quá nói chuyện không muốn rời tổ hợp. Sau khi thử với tuyến phía Bắc xong, anh Lê Tư gọi điện thoại báo cáo trực tiếp đến các đồng chí lãnh đạo Ngành và xin phép cho bắt đầu phát triển tuyến về Vĩnh Linh. Trạm viba Hòn Ngôi chỉ là trạm tiếp sức giữa tín hiệu viba Bắc Nam chứ không tách sóng kết nối mạng. Máy và an-ten hướng phía Nam đã được chúng tôi lắp sẵn ở đây, hứa hẹn một chuyến hành quân tiếp sâu vào Quảng Bình, Vĩnh Linh. Xong việc, anh Lê Tư cử tôi và vài người nữa ở lại trực trạm, còn tất cả xuống núi nghỉ ngơi chuẩn bị hành quân tiếp.
Chiều mát, theo sự chỉ dẫn của các anh chị dân quân, tôi khoác AK, quảy đôi thùng tôn xuống suối lấy nước. Rừng đẹp và mát quá! Hai bên lối xuống suối chuối rừng đâm đầy bắp, trông xa như những quả B40 đã lên nòng chờ bắn; dây leo chằng chịt, hoa sói vươn dài như những cái đuôi vàng lất phất toả hương thơm man mác. Bắp chuối rừng thái làm rau ăn rất hấp dẫn, còn hoa sói ướp chè uống tuyệt ngon. Chim rừng cũng nhiều, nhất là con cu xanh kéo về hàng đàn, hàng đàn. Chiến trường khu IV rất ác liệt nhưng nơi đây thật thanh bình. Tôi bắn được vài con chim cu béo mập, lấy vài bắp chuối, tắm rửa thoả thuê dưới làn nước suối trong mát. Tôi gánh đôi thùng nước leo lên mà thở đến bở hơi tai. Đường núi quá dốc và trơn, còn khó đi hơn cả buổi sáng. Nước sóng sánh, lên đến nơi chỉ còn hai phần ba thùng. Đến trạm, quá mệt, tôi đặt vội gánh nước xuống, nào ngờ gặp chỗ gập ghềnh, cả hai thùng lăn ra, đổ hết. Tôi nổi nóng đá cho hai thùng hai cú nhưng rồi biết do mình nên phải tự cất công xuống lấy nước. Lại 600 mét leo trèo lên xuống chứ phải chơi. Lần này dù mệt đến đâu, tôi cũng tìm chỗ bằng phẳng, nhẹ nhàng đặt đôi thùng nước xuống. Thế là trạm chúng tôi đã có nước dùng vài ngày. Về sau này, nghe anh em kể lại, mỗi đợt thay ca là một tuần. Anh mới lên phải tự đi lấy nước, chờ lấy nước xong, anh cũ bàn giao ca xuống núi. Mỗi đợt giao ca chỉ lấy nước có một lần, đôi thùng nước được dùng vừa rửa mặt, rửa rau, vo gạo, uống. Anh em thường vo gạo trước, xong lấy nước đã vo gạo rửa rau, sau dùng nước đó rửa chén, đũa...
Trạm viba Hòn Ngôi bây giờ được đặt tên là trạm T24. Từ trưa đến chiều khi thông tuyến, chúng tôi liên tục nhận được điện thoại chúc mừng, thăm hỏi từ bạn bè của nhiều trạm, tuyến viba khác. Thật là bận rộn và sung sướng. Buổi chiều tối, mấy anh em trực trạm ăn một bữa cơm đạm bạc trên lưng chừng trời. Chim cu nướng và bắp chuối rừng quyện với cá mắm ngon quá, chưa bao giờ chúng tôi được một bữa cơm tuyệt vời đến thế! Buổi tối có mấy cô bạn ở đài viba Hà Nội gọi vào hỏi thăm, nói chuyện cười khúc khích bảo nhớ chúng tôi lắm! Tôi cười không tin tưởng. Tôi kể cho các cô ấy nghe sự gian lao và vất vả đến kỳ thú. Các cô rất cảm thông và khâm phục. Khi kể về dâu rừng, các cô đều phấn chấn hẳn lên và mong có một ngày đến Quảng Bình để thưởng thức. Sáng tinh mơ tôi đã nghe tiếng gà rừng gáy te te, tiếng chim hót vang lảnh lót, xen lẫn tiếng ve rừng râm ran, xa xa vọng lại tiếng róc rách của những khe suối nhỏ. Rừng thật thanh bình. Chúng tôi dậy rửa mặt, nấu ăn và chuẩn bị một ngày làm việc mới. Chưa kịp làm gì thêm cho trạm thì anh Lê Tư điện thoại bảo có người lên thay, tôi xuống núi, chuẩn bị đêm nay hành quân tiếp vào trong. Tôi chia tay anh em ở trạm. Hòn Ngôi lúc này mát và đẹp lạ lùng. Buổi sáng mùa hè trời trong, nhìn xuống mây bồng bềnh, trôi tắp tắp vào triền núi, tôi có cảm giác như đi trên một con thuyền giữa biển khơi mênh mông.
Đoàn chúng tôi chuẩn bị lên đường thì được lệnh dừng, đợi một thời gian nữa mới triển khai. Chúng tôi tiếp tục ở lại cùng với xóm Bưởi Rỏi và trạm T24 đông vui. Chúng tôi quen thân dần với những người dân địa phương. Hầu như tối nào không gia đình này thì gia đình khác cũng đến trạm viba chơi, họ thường đem theo ngô, khoai luộc và những bó chè tươi để chúng tôi thưởng thức. Thỉnh thoảng chúng tôi cũng có những bữa ăn tươi, vào các nhà dân mua gà, vịt, cá. Dân ở đây thật tốt, tuy nghèo nhưng họ không bán đắt cho chúng tôi bao giờ. Đặc biệt, thanh thiếu niên trong xóm rất thích các anh viba, tối nào chúng tôi cũng gặp mặt giao lưu văn nghệ vui vẻ. Một tuần sau, chúng tôi được lệnh lên đường đi tiếp vào trong.
... Sau khi hoàn thành xây dựng tuyến, tôi ra lại Hà Nội. Đầu năm 1974, tôi lên đường đi B về lại quê hương sau 20 năm xa cách. Tôi đã thật sự xa Trung tâm viba và không còn dịp nào đến xóm Bưởi Rỏi, đỉnh Hòn Ngôi nữa. Viba, Bưởi Rỏi, Hòn Ngôi là những cái tên thân thương mà tôi mang theo suốt cuộc đời./.
Đà Nẵng, ngày 01/6/2000