Điện đài mật ở nội thành Sài Gòn

 •  14:46 thứ năm ngày 12/08/2004
Thanh Lê (Ghi theo lời kể của đồng chí Phạm Công Yên, nguyên Trưởng ban Thông tin liên lạc khu Sài Gòn - Gia Định).Sau Tết Quý Mão năm 1963, tôi đang làm nhiệm vụ Trưởng ban Thông tin khu Sài Gòn - Gia Định được lệnh gọi của đồng chí Võ Văn Kiệt đến gặp để bàn một công tác gấp.Tình hình chung lúc bấy giờ ở đô thị rất sôi động, các vùng ven đô Sài Gòn - Gia Định nhân dân đồng loạt đứng lên diệt ác, phá kềm mở rộng vùng giải phóng. Các tầng lớp đồng bào nội đô với khí thế sôi sục cách mạng, bằng nhiều hình thức liên kết thành các phong trào đấu tranh đòi lật đổ ngụy quyền độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của Mỹ.

Trong bối cảnh đó, được lệnh gọi làm việc trực tiếp với Bí thư khu ủy, tôi ước đoán là sẽ có một yêu cầu công tác rất quan trọng. Sự việc diễn ra hết sức bất ngờ, Bí thư khu ủy chỉ đạo cho tôi về bàn giao ngay khối công việc của Ban Thông tin cho các đồng chí ở lại và thu xếp đi vào nội thành để xây dựng một đài vô tuyến điện mật, liên lạc với chiến khu. Thời gian không ấn định cụ thể, nhưng Bí thư khu ủy có lưu ý là công việc triển khai càng sớm càng tốt để phục vụ yêu cầu chính trị đang đòi hỏi rất khẩn trương.

Đối với một cán bộ chuyên môn được Đảng đào tạo từ trong kháng chiến chống Pháp, tôi khẳng định ngay quyết tâm thực hiện sự chỉ đạo của cấp ủy. Tuy vậy, điều kiện cụ thể hoạt động của một tổ điện đài ngay trong lòng sào huyệt của bọn ngụy quyền quả thật không đơn giản.

Hồi đó, trước sức đấu tranh mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân miền Nam, chính quyền độc tài của Ngô Đình Diệm có khả năng sụp đổ. Chúng càng ra sức tăng cường bộ máy đàn áp, khủng bố trắng khốc liệt. Quân đội luôn đặt trong tình trạng báo động. Cảnh sát, công an được rải đều khắp mọi hang cùng ngõ hẻm trong thành phố. Các chốt chặn vào nội thành được kiểm soát rất nghiêm ngặt.

Về đến cơ quan, tôi cùng các đồng chí trong Ban Thông tin sắp xếp mọi công việc để tôi lên đường. Sau khi được bộ phận làm giấy giả của ta cung cấp giấy tuỳ thân (giấy căn cước), tôi theo giao liên du kích đến xã Phú Hoà Đông (huyện Củ Chi) nghỉ đêm tại nhà một cơ sở cách mạng. ở đó tôi thay đổi trang phục, cải trang như dân thành thị, theo chị giao liên công khai ra lộ nhựa đón xe về hướng chợ Tân Thanh Đông. Không khó lắm, chúng tôi vượt qua một số trạm gác của lính bảo an, dân vệ dọc đường đi thẳng đến chợ Gò Vấp. Hoà nhập được vào cảnh quang của một thị tứ tấp nập, tôi cảm thấy an toàn hơn lúc băng qua vùng sôi động ven đô.

Mới cách đây có vài ngày tôi đã phải trải qua hai bối cảnh sống khác biệt nhau. Một nơi ở chiến khu với cuộc sống thiếu thốn vật chất, nhưng tinh thần luôn vui tươi, thoải mái. Hàng ngày làm việc cùng với đồng đội, đồng chí hỗ trợ nhau, yên tâm, thanh thản. Ngược lại, bắt đầu từ đây, tôi sống và làm việc trong “hang hùm” luôn phải đối phó với mọi bất trắc có thể xảy ra. Một sơ hở nhỏ cũng có thể bị địch bắt, tù đày, thiệt hại cho cơ sở của ta ở nội thành.

Đến lúc từ giã chị giao liên ở bến xe buýt Gia Định, tôi có cảm giác một nỗi cô độc đến lạ thường. Điều đầu tiên muốn bắt liên lạc với cơ sở mới là phải tìm đến một chỗ dựa rất vững chắc. Tốt nhất là người thân thuộc trong gia đình. Đó là nhà của cô em họ, con ông chú ruột của tôi có một cửa hiệu thuốc bắc “Vạn Sinh Đường”. Địa chỉ này khá thuận lợi cho tôi nhờ hoà nhập với số khách hàng đến mua thuốc, bọn mật thám của địch không chú ý.

Thấy tôi về bất ngờ, cô em họ sửng sốt. Lâu ngày xa cách, anh em gặp lại nhau giữa đất Sài Gòn, vừa mừng, vừa lo. Tôi biết tâm trạng ngỡ ngàng của cô em nên buộc phải thổ lộ rõ nguyên nhân để cô yên tâm và tìm cách giúp đỡ, che chở tôi hoàn thành nhiệm vụ. Trong số bà con thân thuộc, biết tôi trở về Sài Gòn đột ngột đã tỏ ra ái ngại. Nhất là ông cha vợ của tôi lại suy diễn: “Có phải nó không chịu đựng nổi gian khổ trong kháng chiến nên trốn về thành hay không?”. Chuyện xảy ra cũng đáng buồn. Nhưng tôi cứ nghĩ đến nhiệm vụ mà lòng cảm thấy nguôi ngoai. Chuyện đồn đại có thể đến tai bọn mật thám, nhưng như vậy lại càng tốt.

Sau khi tắm rửa, nghỉ ngơi được một chút, tôi được cô em họ đưa đến nhà anh Bảy Trấn, một đảng viên đang hoạt động bí mật ở nội thành. Nhà anh Bảy đang thuê là một căn phố trệt nhỏ hẹp ở đường Đặng Văn Ngữ (quận Phú Nhuận). Hai vợ chồng cùng 4 đứa con sống tại đây thuộc loại công chức nghèo. Nay có thêm tôi về tạm tá túc nên lại càng thêm chật chội. Tuy vậy nhưng cả gia đình đều cảm thấy vui mừng. Anh em lâu ngày mới gặp được nhau trong một bầu không khí gia đình đầm ấm.

Ngay chiều hôm đó, tôi quay về trạm xe buýt Gia Định gặp lại chị giao liên và nhờ chị báo cáo với tổ chức là tôi đã tìm được đầu mối liên lạc ổn định, chuẩn bị bắt tay ngay vào hoạt động. Kể từ đó tôi không còn được gặp chị giao liên đó nhưng tôi thầm cảm ơn sự khéo léo của chị đã che chở, đưa tôi đến nơi an toàn.

Cơ sở tôi được giới thiệu đến xây dựng đài vô tuyến nội thành là một địa điểm thật bất ngờ đối với địch. Một căn phố lầu, hai căn được nối liền với nhau khá rộng rãi, mang số 42 đường Nguyễn Cư Trinh (quận 2) thuộc khu vực trung tâm của thành phố Sài Gòn. Nhà nằm cạnh bến xe miền Đông và cách Tổng nha Cảnh sát ngụy quyền một đường không xa. Nơi đây là cửa hiệu radio “Tri âm” - trước kia chuyên sản xuất đĩa hát máy. Do cơ sở sản xuất rất nhiều đĩa hát có nội dung tiến bộ nên bị chính quyền Sài Gòn đánh sạt nghiệp. Các sản phẩm sản xuất được bị chúng thu hồi, đập phá đi đến phá sản. Hiện tại cơ sở chuyển sang sửa chữa máy thu thanh, mua bán máy móc, phụ tùng đủ để duy trì cửa hiệu.

Ông chủ cửa hiệu là kỹ sư điện tử Nguyễn Văn Kĩnh. Gốc quan hệ gia đình thuộc tầng lớp địa chủ ở Bạc Liêu. Đến đời ông là người có tinh thần dân tộc rất cao, tâm trạng đang bất mãn với chính quyền ngụy phản dân, hại nước. Vợ ông là nghệ sĩ hát bội Thanh Tùng, cùng thời với nghệ sĩ nổi danh Phùng Há. Cả gia đình có quan hệ rất rộng với giới trí thức ở Sài Gòn lúc bấy giờ.

Bên trong căn nhà, toàn bộ tầng trệt được sử dụng làm cửa hàng và nơi sửa chữa máy móc. Trên lầu có một phòng ngủ lớn và một phòng nhỏ, một gian bếp cùng một bàn ăn khá rộng rãi. Ông Nguyễn Văn Kĩnh là một kỹ sư du học ở Pháp, nghiệp vụ chuyên môn rất giỏi. Hai ông bà sẵn sàng che chở và giúp đỡ tôi chuẩn bị mọi điều kiện để lắp ráp máy thu phát, liên lạc về chiến khu. Trong quan hệ với gia đình, tôi đóng vai là cháu, gọi ông bà là cậu, mợ. Từ lúc này, tôi có một tên mới là Sinh cho phù hợp với tên trong căn cước giả.

Chỗ tôi nghỉ đêm tại căn phòng nhỏ trên lầu. Nơi đây được dự định bố trí máy thu phát liên lạc. Ban ngày, tôi công khai làm việc dưới cửa hàng. Ông Kĩnh trực tiếp đứng chủ và sửa chữa các loại máy móc. Thời gian này ông nhận thêm một công nhân học nghề, chăm sóc khách hàng. Anh là người tin cẩn của gia đình nên chúng tôi dễ dàng hợp tác với nhau để làm việc.

Do sự chuẩn bị trước nên hàng ngày ông Kĩnh dành cho tôi phần lớn thời gian cần thiết lắp ráp máy. Các linh kiện điện tử của cửa hàng thời ấy khá đầy đủ nên tôi bắt tay vào làm với sự giúp đỡ kỹ thuật của ông Kĩnh.

Chiếc máy phát dự kiến có công suất 2W được lắp ráp nằm gọn trong một dụng cụ sử dụng điện thông thường. Ngay những người am hiểu nghiệp vụ nếu mới nhìn vào cũng khó phân biệt được đó là một chiếc máy phát sóng cao tần. Các linh kiện, phụ tùng được tôi chọn sẵn để lẫn lộn vào các máy móc của khách mang đến nhờ sửa chữa. Việc lắp ráp máy phát sóng hồi đó bị chính quyền cấm đoán khá nghiêm ngặt từ thời thực dân Pháp nên chúng tôi phải làm việc hết sức cẩn thận để nghi trang.

Còn đối với máy thu thực hiện dễ dàng hơn. Tôi chỉ cần mua một máy thu thanh transitor, băng rộng có gắn tai nghe. Sau đó lắp thêm một bộ phận BFO nhỏ nữa là thu tín hiệu được.

Chẳng bao lâu sau, tôi lắp ráp xong một bộ máy thu phát hoàn chỉnh. Việc khó nhất là giăng một dây an-ten dài cho máy phát trên không trung nhỏ hẹp của căn phố. Thời đó máy phát của ta tự lắp ráp phải có dây an-ten dài đến 25 mét, giăng theo kiểu chữ T lệch. ở một dãy phố có nhiều nhà dân ở đường Nguyễn Cư Trinh, chuyện nghi trang cho dây an-ten dài của máy phát thật rất khó khăn.

ở nhà ông Kĩnh, thường vào ngày thứ bảy đến hết chủ nhật hàng tuần có rất nhiều khách của cả hai ông bà. Hầu hết khách đến đều thuộc giới trí thức. Có một ít người làm việc trong Bộ Nội vụ, Công an ngụy cũng thường tới đây. Số này ông Kĩnh đã giới thiệu thẳng với tôi để chú ý. Những khách đến đây thường gây sòng đánh bài tứ sắc. Họ đánh bài suốt đêm thứ bảy và cả ngày chúa nhật nên ít ai chú ý đến tôi. Có vài lần máy thu thanh trong xe công an ngụy bị hư, ông Kĩnh kêu tôi chui vào sửa chữa. Dần dần tôi làm quen với cảnh này, cách sinh hoạt rất tự nhiên như con cháu trong nhà quen biết với công an ngụy nên dễ dàng qua mặt được bọn mật thám.

Thỉnh thoảng có ngày chúa nhật cả nhà đi vắng, không có khách đến, tôi leo lên nóc nhà phía sau phát hiện được một khoảng không hẹp chạy dọc theo nóc bằng nhà kế cận. ở đó có thể thêm một đoạn dây nối dài với an-ten máy thu thanh của cửa hiệu là đủ sử dụng cho máy phát. Thời kỳ này, hầu hết người có máy thu thanh dùng loại đèn điện tử và dùng an-ten trời mới thu rõ được sóng phát thanh. Nhiều nhà ở xung quanh đều có giăng an-ten cho máy thu thanh. An-ten của máy phát dù nối thêm một đoạn khá dài nhưng cũng không ai chú ý. Tôi quyết định thực hiện ngay vì máy thu phát đã được lắp ráp xong. Khi kéo dây đến ngang phòng tôi chừa một mối nối an-ten vào máy phát.

Trước ngày hẹn liên lạc với đài đơn tuyến chiến khu, tôi chọn lúc nửa đêm mọi người đã đi ngủ để thử lại máy móc. Bởi vì máy phát tự lắp ráp có khá nhiều sóng phụ được phát ra không trung. Máy thu nằm ở gần đó đều có thể bị ảnh hưởng sóng phát. Biết đâu do tình cờ bọn thông tin ngụy sẽ phát hiên một làn sóng lạ nằm rất gần với chúng.

Cuộc thử máy mang lại kết quả rất đáng vui mừng. Máy phát lên sóng khá tốt, đèn đỏ báo hiệu nhấp nháy sáng trưng. ánh đèn như nhảy múa với niềm vui rực sáng của người thực hiện. Đến lúc thử lại máy thu, tôi rà khoảng sóng quen thuộc của đài nhà, bắt được tín hiệu rất rõ đến mức có thể phân biệt được người phát ra tín hiệu “moóc” rất quen thuộc.

Cuộc thử máy diễn ra rất nhanh, tôi xếp lại các loại máy móc vào một chỗ kín trong góc phòng và yên tâm chờ đợi móc nối với bên cơ yếu, báo cáo kết quả với thường trực khu ủy ở nội thành.

Thời gian sau, đài mật nội thành chỉ có thể thực hiện lên máy phát sóng liên lạc một vài lần với đài chiến khu rồi im tiếng. Hoạt động của đài với phương châm là hết sức thận trọng vì nằm trong lòng địch. Hầu hết công việc thông tin chủ yếu nhận điện một chiều có hẹn trước do đài Trung ương cục phát, chuyển giao cho cơ yếu mã dịch.

Phương cách hoạt động của đài theo hệ đơn tuyến do đồng chí Nguyễn Thái Sơn (Bảy Bình), thường trực khu ủy nội thành phụ trách. Để đảm bảo điều kiện hoạt động lâu dài, cấp trên cho phép tôi đưa vợ và hai con lên sống chung ở Sài Gòn như một gia đình hợp pháp để làm bình phong che mắt địch.

Ngày 01 tháng 11 năm 1963, diễn ra cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm. Hôm ấy, trong lúc tôi đang dọn dẹp căn nhà mới thuê ở Tân Định thì nghe ở ngoài đường xôn xao hẳn lên. Tôi nghe rõ có tiếng la lớn:

- Đảo chính… đảo chính!

Không chút do dự, tôi vội thay quần áo chạy ra đường, ngoắc một chiếc taxi và chỉ đường chạy thẳng về Nguyễn Cư Trinh. Đến cửa hàng radio “Tri Âm”, tôi cùng anh bạn làm việc đóng vội cửa lại và để anh ra về.

Hôm ấy, vợ chồng cậu Kĩnh đi nghỉ ở Vũng Tàu, Trong nhà còn lại có một mình tôi thoải mái thực hiện nhiệm vụ. Vừa lúc đó có đồng chí Bảy Bình xuất hiện. Đồng chí chỉ đạo cho điện đài lên máy liên lạc với chiến khu. Tôi vội chạy thẳng lên lầu, bước nhanh vào phòng bày biện máy móc ra làm việc.

Trước tiên tôi lên máy phát sóng gọi liên hồi tín hiệu hoả tốc về đài chiến khu theo qui ước giao hẹn trước. Gọi xong tôi rà máy thu tìm tín hiệu trả lời nhưng vẫn không tìm thấy.

Lại gọi… lại rà tìm và cứ thế! Tín hiệu từ đầu bên kia vẫn im bặt!

Trong tâm trạng sốt ruột vì nóng lòng chờ đợi, mồ hôi trong người tôi cũng bắt đầu toát ra cả mặt và đôi bàn tay. Nhưng tín hiệu ở đài chiến khu vẫn không lên sóng. Có một việc gì đó xảy ra đối với đài bạn mà ta chưa rõ!

Cuối cùng, tôi đành phải phát điện phóng thiên. Nội dung bức điện: “Cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm đã xảy ra vào chiều ngày 01 tháng 11 năm 1963. Cả thành phố Sài Gòn đang rất lộn xộn. Nhà phố đóng cửa. Ngoài đường vắng lặng, không còn bóng dáng cảnh sát...”

Bức điện được phát đi thẳng bằng chữ rõ vì thời gian rất khẩn trương, không kịp liên lạc với cơ yếu để mã dịch.

Mặc dù không nối được liên lạc nhưng tôi vẫn nuôi hy vọng là đài chiến khu có bố trí phiên trực canh. Thỉnh thoảng tôi cứ gọi và phát lại bức điện trên, quên hẳn đi bữa cơm chiều. Trong người không cảm thấy đói khát gì cả, cứ phát... cứ tìm đài bạn đến lúc trời xẩm tối.

Đô thành Sài Gòn bắt đầu ồn ào, vang dội tiếng pháo kích. Đạn pháo từ hướng Bình Chánh bay ngang qua bầu trời và phát nổ ở Trung tâm thành phố. Nhiều nhất là phía dinh Độc Lập (dinh Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn - nay là hội trường Thống Nhất).

Khoảng 12 giờ đêm, tiếng động cơ xe thiết giáp, xe quân sự chở bộ binh từ hướng Chợ Lớn theo đường Trần Hưng Đạo ồn ào chạy về Trung tâm Sài Gòn. Đứng trên lầu tôi nhìn xuống thấy nhiều xe quân sự, lính bộ binh tràn cả ra đường Trần Hưng Đạo, toả qua Nguyễn Cư Trinh, qua đường Võ Tánh có trụ sở của Tổng nha Cảnh sát ngụy. Chúng gọi bộ đàm liên lạc inh ỏi trong tình trạng khẩn cấp để điều quân.

Lợi dụng lúc bọn địch đang lộn xộn, tôi lại mở máy liên lạc về chiến khu. Máy phát đài bạn vẫn chưa thấy lên tiếng nên tôi lại tiếp tục đánh điện tín hiệu phóng thiên, lặp đi, lặp lại rất nhiều lần.

Bên ngoài quân đảo chính từ các hướng tiếp tục kéo về trung tâm Sài Gòn càng lúc càng đông. Tiếng súng bộ binh nổ vang từ nhiều điểm trong nội thành. Nhiều nhất là ở dinh Gia Long, dinh Độc Lập. Đến gần 4 giờ sáng, tiếng súng thưa dần rồi im hẳn.

Sau đó, đồng chí Bảy Bình lại xuất hiện, tôi báo cáo tình hình liên lạc về chiến khu bằng cách chuyển điện một chiều suốt từ chiều và cả đêm qua. Đồng chí chỉ đạo cho tôi ngừng máy và tạm nghỉ.

Đến sau này, tôi mới biết lúc chuyển điện phóng thiên được lặp đi, lặp lại nhiều lần, đài chiến khu đã theo dõi, nhận đầy đủ và chuyển báo cáo lên cấp trên. Riêng máy phát đài chiến khu không phát sóng được là do ngày hôm trước quân địch càn quét vào vùng căn cứ Hố Bò (huyện Củ Chi). Khi đưa máy đi cất giấu, ra-gô-nô phát điện bị hư nên máy phát không thể phát sóng. Lúc về căn cứ dự phòng lấy máy khác thì đài nội thành ngừng liên lạc.

ở Sài Gòn, khi dọn dẹp máy móc xong, tôi đi ra phố để quan sát tình hình. Suốt dọc đường Lê Lợi, khu phố chợ Bến Thành có nhiều nhà bị trúng đạn sập đổ. Tại dinh Gia Long, khói súng đạn vẫn còn đọng lại, bay là là trên mặt đất, toả mùi khét lẹt. Những tường nhà gần đó có vết đạn các loại làm lỗ chỗ. Các dấu vết tàn phá chứng tỏ nơi đây vừa xảy ra một trận đụng độ khá quyết liệt giữa quân đảo chính và quân trung thành với Diệm. Kết cục quân trung thành với Diệm bị dẹp tan. Quân đảo chính đóng chốt ở nhiều nơi và triển khai chiếm lĩnh những điểm xung yếu.

Sau đợt đảo chính Ngô Đình Diệm, đài nội thành ít lên tiếng phát sóng để tránh địch phát hiện. Lúc này, thường trực khu ủy nội thành chỉ đạo cho đài nội thành liên lạc nhận thêm cán bộ cơ yếu mới chuyển đến thay cho đồng chí Tám Kiêng trở ra chiến khu công tác. Đó là đồng chí Năm Minh. ở đài đã có đủ số người nên được cấp trên quyết định cho thành lập một tổ Đảng và bắt đầu hoạt động thông qua một tập thể chứ không còn theo hệ đơn tuyến.

Do công tác thông tin vô tuyến ngày càng ít đi nên cấp trên đã giao cho chúng tôi thêm một số công việc liên lạc và xây dựng cơ sở cách mạng ở nội thành. Công tác gần giống như một số đầu mối giao liên công khai, móc nối với các nút giao liên hợp pháp.

Đến đầu năm 1964, tôi về Vĩnh Long để làm giấy tờ tuỳ thân do chính quyền ngụy cấp thông qua mối quen biết của gia đình với Sở làm căn cước tỉnh Vĩnh Long. Lúc này tôi không còn sử dụng giấy giả nữa nên việc đi lại thuận lợi hơn trước.

Có lần, thường trực khu ủy nội thành chỉ đạo cho tôi đón đồng chí Bí thư khu ủy Võ Văn Kiệt vào công tác trong thành phố và nghỉ đêm ở nhà tôi. Công việc này trước đây do anh Bảy Trấn đảm nhiệm nhưng nay giao lại cho tôi thực hiện vì anh Bảy Trấn đang thay đổi chỗ ở.

Đối với các công tác mới được giao, tôi chưa có nhiều kinh nghiệm nhưng dần dần cũng quen đi. Sau các chuyến chuyển tài liệu, thư từ mật của cấp ủy đi các nơi và ngược lại, tôi rút ra được một kinh nghiệm để thực hiện cho các chuyến sau đó. Chung qui lại người công tác trong lòng địch trước tiên phải thật dũng cảm, khéo léo tận dụng mọi tình huống để hoàn thành nhiệm vụ, Đôi lúc phải biết kết hợp với sự táo bạo để qua mắt địch.

Thời gian này tôi được phân công nhận thêm một nút giao liên công khai liên lạc về chiến khu. Điểm nút này là gia đình anh Tư Vạng, tài xế của hãng sơn Laphadène. Vợ con anh Tư Vạng ở chợ Nhỏ (Bình Dương). Các cuộc hẹn thường là ngày chúa nhật, tôi chạy xe gắn máy từ Sài Gòn lên để giao nhận thư từ, hàng hoá (loại gọn nhẹ, có nghi trang).

Trường hợp có thư hoả tốc ở chiến khu ra thì vợ anh Tư Vạng đem ngay lên Sài Gòn giao cho tôi. Công tác quen dần, chị trở thành một chiến sĩ giao liên đặc biệt, xây dựng một điểm nút đưa đón nhiều cán bộ ở nội thành ra chiến khu hội họp. Khi có việc về chiến khu để báo cáo tình hình hoặc học tập nghị quyết, tôi cũng theo đường dây này đi lại rất an toàn. Chỉ có điều đáng chú ý là người đi theo đường dây này phải có thời gian khá rộng rãi. Từ Sài Gòn đi lên Bình Dương, qua sông Sài Gòn, rồi theo một con rạch nhỏ vào vùng ruộng lúa của đồng bào Củ Chi. Từ đó phải đi bộ về xã Phú Hoà Đông, theo con đường giao liên du kích mới đến được căn cứ của khu ủy ở rừng Hố Bò (Củ Chi).

Nhờ kết hợp với công tác đi lại công khai trong nhiều tháng ở Sài Gòn, tôi có điều kiện đi tìm mua các thiết bị, phụ tùng máy móc thông tin để gửi ra cung cấp cho đài vô tuyến điện ở chiến khu. Thời kỳ này ở khu bán hàng “Lạc son” chợ Lớn có nhiều tiệm thầu hàng của quân đội ngụy thải ra. Trong đó bọn tướng tá ngụy lợi dụng tuồn cả hàng mới do ăn cắp được ra thị trường. Người mua lại những món hàng này cũng hợp pháp nên tôi trà trộn được vào đó mua cả linh kiện điện tử, tai nghe, ma-nip, máy phát điện. Mỗi lần chỉ mua được một ít để tránh bọn tai mắt của địch chú ý. Mua xong, tôi đem về nhà nghi trang cẩn thận vào các hộp bánh, thùng hàng nhỏ gửi ra chiến khu theo đường liên lạc công khai. Đối với các loại hàng cồng kềnh như máy phát điện, bình ăc-qui phải chuyển theo đường dây bằng đường sông Sài Gòn rồi báo cho trạm đường sông vùng căn cứ đón nhận. Số hàng điện tử, máy móc, phụ tùng do tôi gửi ra đều lần lượt được đưa đến đài ở chiến khu rất an toàn. Nhờ vậy, đài thông tin Sài Gòn - Gia Định hồi đó đỡ vất vả vì thiếu vật tư trong lúc vắng mặt tôi.

Công tác một công đôi ba việc ở đài mật nội thành hồi đó đối với tôi mãi mãi vẫn là một kỷ niệm lý thú.

Đến đầu năm 1965, các khối công việc của đài mật nội thành đi dần vào nề nếp ổn định. Lần theo các mối quan hệ mật thiết, tôi có dự định thi lấy bằng cấp hợp pháp để chui sâu vào Bộ Nội vụ của chính quyền Sài Gòn qua hệ thống thông tin liên lạc. Nhưng không còn kịp nữa rồi! Tôi được lệnh gọi ra chiến khu để nhận công tác gấp và được phân công trở lại nhiệm vụ Trưởng ban Thông tin Sài Gòn - Gia Định cùng với một kế hoạch phát triển thêm các đài phục vụ khu ủy và các địa phương.

Kể từ đó đài mật nội thành chấm dứt nhiệm vụ. Hơn 35 năm đã trôi qua, ngành thông tin liên lạc khu Sài Gòn - Gia Định có nhiều thay đổi mới, theo cùng và đóng góp phục vụ sự nghiệp cách mạng chung. Nhưng đối với tôi, những năm tháng gắn bó với đài vô tuyến điện nội thành không bao giờ phai mờ trong ký ức. Một thời tuổi trẻ nguyện vọng cống hiến hết sức mình cho sự nghiệp cách mạng bằng bất cứ nhiệm vụ nào do Đảng giao cho. Điều lý thú nhất là ngay trong sào huyệt của ngụy quyền, tôi vừa thực hiện một đài thông tin, vừa làm điểm nút giao liên công khai, vừa làm công tác tiếp liệu cho đài vô tuyến điện ngoài chiến khu một cách rất an toàn.

Thành công đó chính là nhờ sự che chở và giúp đỡ của nhân dân. Một chân lý sáng ngời!