Những ngày ấy

 •  14:42 thứ năm ngày 12/08/2004
Nguyễn ngọc kìnhĐã gần 50 năm trôi qua, giờ đây tôi đã là một ông lão, chỉ còn đôi năm nữa là bước sang cái tuổi “xưa nay hiếm”. Mái tóc đã bạc, đôi mắt đã mờ, đôi chân đi chậm chạp, vậy mà khi nhớ lại những kỷ niệm của những ngày ấy thấy lòng không khỏi xúc động, bồi hồi.Lúc đó tôi là giao thông viên của Ty Bưu điện Yên Bái. Gọi là Ty nhưng có lẽ cũng chỉ vài ba chục người, chẳng có phòng ban gì nhiều, chỉ đến bữa ăn thì mới tập trung tương đối đầy đủ, cũng được dăm mâm. Nói là mâm cho sang chứ thực ra cũng chỉ là mấy cái bàn làm bằng vầu hoặc tre nứa ghép lại trên bốn gốc tre chôn, ghế cũng được làm như thế nhưng thấp hơn ở hai bên. Có lần một người sơ ý làm lăn cái máng đựng canh (máng được làm bằng một gióng mai, dài chừng 40 cm, hai đầu có mấu, trông giống như một cái máng lợn xinh xinh) đổ hết cả máng canh bí ngô nước nhiều hơn cái xuống đất, thế là cả mâm ngồi cười nhìn nhau, ăn cơm nhạt gần hết bữa. Ông Sừ là cấp dưỡng, thấy vậy thương tình vét cho một ít nước canh còn sót lại ở trong chảo, sợ không đủ ăn lại phải xin bà Định thêm một ít muối trắng cho thêm vào. ấy vậy nhưng cái “Nhà ăn” bốn bề không phên liếp che chắn này luôn râm ran tiếng cười nói át cả tiếng đánh vần: “Đáp Cầu, Móng Cái, Yên Bái, Quảng Ninh” và tiếng đọc điện báo qua điện thoại: “Lúc 8 giờ có hai xe thồ đánh rơi hai tá bút chì, bốn lái buôn đánh rơi tám quả cam, vỡ sáu, bảo em ra mang về” (lúc 8 giờ có hai máy bay bắn hai loạt đạn xuống bến phà, bốn máy bay khác thả tám quả bom nổ sáu...) của mấy cô điện thoại viên từ gian buồng nhà ông chủ vọng ra. Chủ nhà là ông Quản Điền, ông thật dễ dãi, chẳng bao giờ thấy ông khó chịu về cái tật ăn ít cười nhiều của bọn tôi. Nhà ông Quản Điền núp dưới một nương cọ dày ở cái làng Nga Quán này, ngôi nhà cũng đơn sơ, mộc mạc như chủ của nó. Chính ông cũng không nhớ rõ là đã cho Ty Bưu điện Yên Bái ở nhờ từ bao giờ. Trên một dãy liếp dài đan lóng đôi, ở ngay hai gian nhà chính là giường ngủ của anh em bọn tôi.

Hôm đó khoảng 04 giờ sáng, trời mới tang tảng sáng, ông Bái tổ trưởng gọi tôi dậy giao nhiệm vụ ngắn gọn: “Đây là một công văn hoả tốc hẹn giờ, đồng chí phải đi thật nhanh để giao công văn này cho Ban chỉ huy trại giam tù binh đóng ở ngòi Quạch trước 12 giờ trưa”. Biết từ đây đến Quạch không dưới 30 km, mà ngày đó chúng tôi toàn đi bộ, nên tôi vội vã đi ngay. Khoảng quá nửa mùa thấy bụng đói, tôi nghĩ “mình phải ăn thứ gì đó là thứ khô, nhưng không phải uống nước, cho nhẹ bụng”. Tôi chạy vào một quán nhỏ ven đường mua hai chiếc bánh gai, vội vã trả tiền rồi lại vội vã đi ngay, vừa đi vừa bóc bánh ăn, để lại sau lưng những cặp mắt tò mò, ngơ ngác của cụ chủ quán và mấy cô gái trẻ.

Chưa đến 12 giờ thì tôi đã tới nơi. Người gác cổng đánh ba tiếng kẻng. Từ trong bước ra một người bộ đội ăn mặc chỉnh tề, tay đeo băng đỏ ra gặp tôi, ký nhận công văn và bảo tôi chờ một lát. Ông nói là để báo cáo cấp trên. Càng chờ càng thấy bụng đói cồn cào, sức thanh niên với hai cái bánh gai thì thấm tháp gì! Tôi nghĩ bụng, chắc họ bảo mình chờ là để nhà bếp chuẩn bị, đinh ninh thế nào họ cũng sẽ bưng đến cho một đĩa cơm đầy, độn ngô cùng vài con cá mắm nướng thật giòn, thơm nức. Chẳng ngờ, thay cho đĩa cơm tôi mong đợi, người bộ đội kia không rõ chức vụ gì lại giao cho tôi một công văn hoả tốc hẹn giờ thứ hai để trả lời công văn thứ nhất, nói là phải giao cho Tỉnh đội trước 8 giờ tối. Tôi ký nhận, đôi tay tôi run lên vì đói và lo, lúc này đã quá 01 giờ chiều, tôi nghĩ chỉ còn một cách duy nhất là đi thật nhanh.

Tôi vừa đi vừa chạy, chạy một đoạn thấy mệt lại đi, cái đi thay cho cái nghỉ, lấy sức rồi lại chạy, suốt cả chặng đường trên 30 km như vậy. Vậy là tôi đã đi bộ gần 70 km trong một ngày, nghe thật khó tin nhưng cũng giống như người nữ dân quân vác được hòm đạn gấp đôi trọng lượng cơ thể của mình. Bởi nếu không cướp lấy thời gian thì trời sẽ tối, mà trời mùa thu đã tối thì như bưng lấy mắt, lúc ấy thì kiếm đâu ra đèn pin hay củi đóm gì. Cuối cùng tôi cũng giao được công văn khi trời đã tối mịt.

Sáng hôm sau, ông Bái đưa cho tôi 5 hào, nói là tiền “Vãng phản” và cho tôi nghỉ phép hai ngày. Tôi cũng không hiểu tiền vãng phản là tiền như thế nào nhưng cũng thấy mừng lắm.

Đó là chuyến đi đặc biệt, chứ còn bình thường thì cứ khoảng 04 giờ sáng ông Quyền Đình Thái xuống gãi gãi vào gậm bàn chân tôi, rồi giao cho một túi thư với phiếu hành trình (BV22). Tôi vùng dậy, mắt nhắm mắt mở, nhìn được trên lá nhãn có ghi BC424 gửi BC423, xem lại cổ túi đã được buộc chặt với con cá gỗ là lập tức lên đường. Cũng chỉ vẻn vẹn có thế, chứ không hề có áo mưa hay nilon hoặc quang gánh gì, nghĩa là tôi có thể đội, gánh, xách, vác thì tuỳ, nếu có gặp mưa thì cũng tự lo liệu lấy. Có lần vừa qua dốc Voi vượt thì gặp cơn mưa to, tôi ngồi nép vào một hõm đá, trời mỗi lúc một mưa nặng hạt, chờ lâu quá, tôi đành cởi hết quần áo ngoài ra đội lên đầu, lấy lá chuối rừng để che và lấy dây sắn buộc túi thư như một chiếc ba lô rồi vội vã ra đi, cũng may đường vắng người chứ nếu không chắc họ buồn cười lắm.

Vào đến Phòng Bưu điện Thiến là điểm giao nhận, theo quy định là 12 giờ trưa, vừa bước vào ngõ đã thấy ông bạn đồng nghiệp tay xách một chiếc đèn bão, mặt đỏ như gấc, trông thấy tôi ông đã văng tục ngay và chửi vuốt mặt không kịp. Bởi vì đã quá 01 giờ chiều rồi tôi mới tới nơi mà quãng đường phải đi không dưới 30 km nữa. Đến nỗi ông Trưởng phòng Phùng Văn Tơ phải ra can ngăn ông bạn tôi mới chịu im và nhận túi thư cho.

Để chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ, đường liên lạc từ Trung ương về khu Tây Bắc được thành lập. Tôi được điều động vào đội quân của Trạm tốc hành (T21) do ông Nguyễn Văn Tư làm trạm trưởng, phó trạm là ông Lê Mạnh Khiển, sau này ông Khiển làm giám đốc Bưu điện Lai Châu. T21 phụ trách đoạn đường từ ngã ba Ba Khe đến T20 đóng cách thị xã Tuyên Quang 10 km về phía Đại Từ. Đoạn này chia làm hai chặng: chặng thứ nhất từ ngã ba Ba Khe đến thị xã Yên Bái nơi T21 đóng ở làng Hào Gia, vì đoạn này nhiều đèo dốc, vực sâu nên được ưu tiên đi ban ngày, chặng còn lại từ Yên Bái đến T20 phải đi đêm.

Lần đầu tiên tôi tìm đến T20, được cấp trên dặn là đi từ Yên Bái qua thị xã Tuyên Quang 10 km về phía Đại Từ, ở bên tay phải có một tờ bìa ghi chữ: “Tổ cha đứa nào ị ở đây” thì men theo bờ ruộng đến một quả gò có nhiều mít hỏi nhà cụ Bình. Tôi đi theo lời dặn, trời tối đen như mực, ánh sáng ít ỏi của chiếc đèn xe đạp khi dừng lại cũng chẳng còn nữa. Tôi tìm được T20 thì đã gần 03 giờ sáng.

Đến bây giờ tôi vẫn không thể tưởng tượng nổi sao lại có một người con gái gan dạ đến thế! Tên chị là Quy, chị đi từ Đại Từ về và thường giao túi thư cho tôi vào lúc 11 giờ đêm hoặc hơn thế một chút. Có một lần chị Quy giao cho tôi túi thư và trên BV22 có ghi: “Kèm theo một phụ nữ”. Tôi phần vì ngạc nhiên, phần vì phấn khởi vì có người bạn đường. Đó là một người phụ nữ nhỏ nhắn nhưng dáng vẻ điềm tĩnh. Cùng nhau đi suốt cả chặng đường dài, chị nói quê chị ở Bắc Ninh nơi có rất nhiều cảnh đẹp, chị về thăm con gửi bà ngoại ở Sơn La. Khi về đến T21 trời gần sáng. Tôi sững sờ vì đường vào trạm ngổn ngang cây đổ, những hố bom chi chít ngăn cả lối vào, thì ra máy bay địch đã oanh tạc khu vực này từ chiều hôm trước, mùi cháy khét lẹt của bom napan vẫn còn nồng nặc. Tôi chuẩn bị nấu cơm và nắm để mang theo, lẽ ra chị nghỉ ở đây đến sáng hôm sau mới đi tiếp, nhưng thấy cảnh hoang tàn, đổ nát chị cũng ngại nên cùng tôi đi ngay. Đến bến phà Âu Lâu, tôi không qua đây mà lại đi thêm lên phía trên. Xem ra chị có ý ngần ngại. Tôi bảo: “Chị yên tâm, tôi có đò riêng”. Đi bộ thêm chừng một cây số, tôi gọi đò: “Ông lái ơi, cho tôi sang sông ngay với”. Chị cười: “Sao lại dài dòng thế!”. Tôi nói đó là ám hiệu của bọn tôi. Chả là ông này được miễn dân công thời chiến, chỉ có mỗi việc ngày hai lần đưa đón bọn tôi thôi. Hôm nay là muộn chứ, mọi hôm tôi phải qua đây trước khi trời sáng kia. Nếu không thì bọn “cổ ngỗng” nó chịu khó đi sớm lắm.

Đến đèo Cổng trời, tôi thấy chị có vẻ mệt và tôi cũng thấy đói, tôi bảo chị: “Cố lên đỉnh đèo ta nghỉ ăn cơm chị ạ”. Chị đồng ý. Lên đến đỉnh đèo, nhìn lên vách núi có hàng chữ: “Xe thồ đ xe ngựa”. Tôi thấy mặt chị đỏ bừng. Chị nói: “Cố đi tiếp một đoạn nữa anh ạ”. Tôi biết chị ngượng nên nói: “ở phía tay phải ta có một làng Mán, trạm quân lương đặt ở đó, mấy chữ đó là biển chỉ đường”. Chị à lên một tiếng to rồi vẻ mặt trở lại bình thường.

Trên đường đi tôi thường bảo chị đi trước, cũng có ý riêng nhưng chị bảo: “Xe tôi trông thế thôi nhưng phanh rất ăn, anh đừng lo”. Đến gần ngã ba Ba Khe thì trời đã xế chiều, nắng xiên khoai. Tự nhiên bốn chiếc “cổ ngỗng” bay qua mặt vòng lại tức khắc. Tôi nói: “Chết rồi, nó nhìn thấy ánh sáng từ vành xe đạp của ta”. Thế là hai chúng tôi lăng vội xe đạp vào một búi nứa gần đó rồi chạy bổ nhào xuống một cái khe nhỏ giữa hai hẻm núi. Bắt đầu bốn chiếc máy bay thi nhau dội bom, nhìn hình quả bom như những cái đĩa. Tôi bảo: “Kinh nghiệm hình bom này là nó oanh tạc khu vực ta rồi”. Lúc này chị hoảng hốt thực sự. Mỗi loạt bom nổ làm rung những mầm guột ở khe núi, tôi thấy chị hơi khóc. Tôi bo lấy đầu chị để che chở, mùi thơm từ tóc chị làm tôi thấy đỡ sợ hơn. Chị nói: “Em là Tùng, công tác ở Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam về khu họp, nếu chết cả thì thôi, nếu còn anh báo cho gia đình em biết”. Tôi nói: “Báo ai?”. Chị Tùng bảo: “Bố mẹ em” - “Thế còn chồng?” - “Chưa có” - “Thế sao bảo...”

Chị hơi cười và lườm tôi, cái cười tôi nhớ mãi đến bây giờ.

Hoá ra địch ném bom xuống một cái cầu ngầm (tràn) của ngòi Lao, ngay phía sau quả núi chúng tôi nấp để cản đường không cho xe ô tô của ta vào chiến dịch.

Sau trận bom, hai người lên đường đi tiếp, từ đó câu chuyện càng trở nên thân mật hơn, chị vẫn không đổi cách xưng hô. Chị tâm sự gia đình chị ở Hà Nội. Lúc này tôi càng thấy mến chị hơn là thương chị lúc tránh bom ở bên khe núi. Rất tiếc là chị lại nói cả chức vụ của chị nên tôi không dám biên thư cho chị, nên cũng chẳng bao giờ gặp lại được chị nữa.

Một lần tôi đi quãng đường ngược lại (từ ngã ba Ba Khe sang T20) nhưng lần này trên BV22 lại ghi: “Kèm một cán bộ đi công tác”. Đấy là một người đàn ông. Tất nhiên tôi phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính mạng, nơi ăn nghỉ của cái “Bưu kiện sống” này. Ông tự giới thiệu tên ông là Tính, có nhiệm vụ mang di vật của tử sĩ về quê quán và làm lễ truy điệu ở địa phương. Ông là một sĩ quan công tác ở Ban Chỉ huy quân sự Quân khu Tây Bắc. Vì không quen đường, không nắm được cung đoạn, nên bên quân khu gửi sang đường dây bên này.

Bắt đầu xuống đèo Thiến (Đát Thiến) dài chừng hai cây số, dốc cao, một bên là vách đá, một bên là suối sâu. Bất ngờ, xe đạp của ông Tính bị đứt phanh sau, tôi đuổi theo càng lúc càng nhanh, ông Tính kêu cứu. Tôi bảo: “Phanh chân” nhưng ông Tính nói: “Không biết phanh chân thế nào?”. Vì tôi quá thuộc đường nên bảo ông: “Qua cua này, bên tay phải có một bụi gai đùm đũm rậm, ông bỏ xe nhảy vào đấy!”. Ông làm theo lệnh tôi, thế là ông thoát chết, mặt ông cắt không còn hột máu. Từ đấy trở đi câu chuyện trở nên gần gũi như anh em trong nhà. Ông nhiều tuổi hơn nên nhận kết nghĩa anh em. Tôi đổi xe cho ông Tính. Hai chúng tôi đến bến phà Hiên thì trời nhập nhoạng tối. Người bơi đò biết tôi và hình như biết cả việc tôi làm, nên bảo: “Hai anh đừng đi nữa, sáng nay có bọn cướp phục ở dốc Kèn, đánh chết một người và cướp một chiếc xe đạp. Chắc bọn nó đông mà lại chỉ có một chiếc xe đạp thì chưa đi được đâu!”. Lúc này tôi đang phân vân chưa biết xử lý thế nào, thì ông Tính hạ ba lô xuống, lấy ra một khẩu súng lục, một chiếc đèn pin và đưa cho tôi một quả lựu đạn mỏ vịt. Thế là chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trình, vào đến thị xã Tuyên Quang cũng gần nửa đêm. Sau đấy anh em chúng tôi cũng thư từ qua lại thăm nhau vài lần, song do chiến tranh nên liên lạc giữa chúng tôi cũng bị cắt đứt.

Thì ra trong chiến tranh con người ta thương quí nhau hơn. Chuyện tình cảm giữa con người với nhau có một cái gì đó ngay thẳng hơn. Sự họp mặt cũng nhẹ nhàng như lúc chia tay, song để lại cho nhau một nỗi nhớ khó tả, dai dẳng khó phai mờ.

Khoảng thượng tuần tháng 5 năm 1954, đó là khoảng thời gian lịch sử của dân tộc, ngày hiệp định Giơ-ne-vơ được ký. Khi nghe được tin này từ anh em trong An toàn khu, tôi phấn khởi quá nói toáng lên, và như một đứa trẻ - tôi phóng xe từ ngã ba Ba Khe ra đến bến phà Âu Lâu. Đi đến chỗ nào có dăm ba người tụ họp là tôi lại nói ngay:

-“Hoà bình rồi, hiệp định Giơ-ne-vơ đã ký rồi”. Mọi người nhìn tôi nửa tin nửa ngờ.

-“Anh nghe ở đâu? Ai nói?

-“Tin từ trong An toàn khu”.

Họ nhìn nhau, có người nói: “Có lẽ đúng đấy, tôi biết anh này là giao thông viên của Bưu điện, thường qua đây luôn”.

Đặc biệt, đến bến phà Âu Lâu, mọi người ào đến vây quanh tôi. Người hỏi câu này, người vặn câu kia. Tôi chỉ nói vắn tắt là tin chính xác ở trong khu. ở trong đó người ta có cái gọi là Đài, nên biết sớm, nói xong tôi lại vội vã đi ngay.

Hôm sau tôi quay lại, mọi người gặp tôi ai cũng tỏ ra thán phục tay bắt, mặt mừng: “Anh nói đúng thật, sáng nay tôi thấy mấy cái ô tô chạy ban ngày mà bỏ hết giàn bí, giàn bầu trên xe rồi”. Tôi cũng không biết vẻ mặt mình lúc đó tự mãn, tự hào đến thế nào nữa.

Bây giờ ngồi đây, một nếp nhà đơn sơ, lợp tranh vách đất... Không biết ai mất, ai còn? Chẳng biết có ai còn nhớ đến mình không?

Chỉ ước gì được gặp lại họ và mong sao được sống lại những ngày ấy./.
Yên Bái, tháng 7 - 2000