Tình đồng đội

 •  14:36 thứ năm ngày 12/08/2004
Hồi ký: Bùi Tự  Lựcũ trụ mênh mông, nhưng hình như mặt đất này chật hẹp, tôi chợt nhận ra có một sợi chỉ hồng xuyên suốt kéo con người xích lại gần nhau, nối liền giữa quá khứ với hiện tại, để mỗi chúng ta tin những gì tốt đẹp nhất sẽ có được ở mai sau.Năm học 1980 - 1981, tôi được bổ nhiệm là Hiệu trưởng Trường Phổ thông Cơ sở xã Bình Lãnh, huyện Thăng Bình. Mới đến nhận nhiệm sở, có bao nhiêu công việc phải làm, việc đầu tiên là tôi cần tìm và tuyển dụng một biên chế cấp dưỡng cho bếp ăn nội trú.Tôi đến gặp lãnh đạo Phòng Giáo dục. Sau khi nghe tôi trình bày nguyện vọng và đề nghị, đồng chí Trưởng phòng Tổ chức Cán bộ nói với tôi:

- Hiện nay, Trường Bổ túc Văn hoá huyện sắp giải thể, bên ấy có một chị cấp dưỡng rất tốt, nhiệt tình với công việc, là vợ liệt sĩ, không có con cái gì.

Mới nghe giới thiệu sơ qua như thế, tôi đã thấy hợp với ý mình, có thể đó là mẫu người tôi đang tìm. Sau khi nói tên, vẽ đường cho tôi vào khu nhà tập thể Trường Bổ túc Văn hoá, đồng chí Trưởng phòng dặn thêm:

- Anh phải làm tư tưởng thật tốt, động viên tích cực mới có hy vọng. Vừa qua có mấy anh ở trường Bình Tú, Bình Trung có đến gặp trực tiếp nhưng chị ấy không chịu về đâu cả, hình như chị đang có ý định xin nghỉ thôi việc để về quê.

Tôi nghĩ rằng các trường ở đồng bằng quanh vùng thị trấn có nhiều điều kiện thuận lợi mà chị không đi, trường Bình Lãnh của chúng tôi ở vùng bán sơn địa, còn nhiều khó khăn, chắc là không thể thuyết phục được chị. Tuy biết như vậy, nhưng tôi vẫn cứ đi tìm đến gặp chị với một tia hy vọng mong manh.

Tiếp chuyện tôi là một phụ nữ điềm tĩnh, ước chừng chưa qua tuổi 40, cao dáng và hơi gầy, nước da không trắng lắm nhưng lại dễ nhìn, bởi chị có khuôn mặt hiền hậu, chất phác. Cảm nhận đầu tiên của tôi về chị là một người hơi buồn nhưng rắn rỏi, dễ tin cậy.

Qua một vài câu chuyện xã giao, tôi tự giới thiệu về mình rồi vào vấn đề luôn:

- Em đã nghe Phòng Giáo dục giới thiệu về chị Bốn, chúng em muốn xin chị về làm cấp dưỡng ở trường PTCS Bình Lãnh.

- Hỏi không phải chớ đến giờ thầy Lực đã có nơi chốn nào tìm hiểu để lo xây dựng gia đình chưa?

Tôi bị bất ngờ trước câu hỏi này, mới gặp lần đầu mà nghe chị hỏi cứ như là đã quen biết tôi từ trước; không ngờ chị lại giành thế chủ động và từ chối khéo léo đến vậy. Tuy có bối rối nhưng tôi cũng xoay xở kịp:

- Thưa chị! Hôm nay em đến đây không phải để nói chuyện đi hỏi vợ, mà là đi tìm một người cấp dưỡng. - Thấy chị mỉm cười tôi xoáy vào mục đích luôn - Nếu chị Bốn quan tâm đến em như vậy, thì hãy về trường Bình Lãnh đi, em sẽ nhờ chị làm mai cho em một đám, chị thấy được không?

- Chị đồng ý!

Tôi lại bị bất ngờ không biết là chị đồng ý chuyện gì, làm mai cưới vợ cho tôi hay là đi làm cấp dưỡng? Thiệt tình tôi không ngờ cuộc nói chuyện lại thoải mái đến thế, cảm thấy bàn chuyện gia đình nhiều hơn công việc Nhà nước. Tôi nghĩ lại rồi thầm trách mình, trách chị, từ một câu chuyện nghiêm túc lại chuyển thành chuyện đùa. Tôi lái câu chuyện trở lại vấn đề xin chị về làm cấp dưỡng, hỏi lại chị lần nữa. Chị thay đổi cách xưng hô, trả lời rất nghiêm túc:

- Tôi nhận sẽ đi về trường Bình Lãnh. Thầy nói Phòng Giáo dục làm quyết định.

Tôi quay lại Phòng Giáo dục với niềm vui đến ngỡ ngàng. Sau khi nghe tôi báo cáo kết quả gặp chị Bốn, các anh ở Phòng Giáo dục từ ngạc nhiên đến thán phục, chúc mừng tôi đã chọn được người cấp dưỡng vừa ý.

Tôi cảm thấy vui khi việc làm đầu tiên trên cương vị Hiệu trưởng lại có kết quả mỹ mãn đến vậy.

Khi nghe tin có một cấp dưỡng trong biên chế cố định, cả khu nội trú cũng rất vui mừng.

Ba ngày sau, chị Bốn đến trình quyết định nhận công tác. Phòng Giáo dục thông báo cho tôi hồ sơ cá nhân của chị sẽ chuyển sau. Cái hiện tại chúng tôi cần lúc nầy là con người, hồ sơ lý lịch thì từ từ cũng được.

Có chị Bốn về, cuộc sống ở nội trú đổi khác, cảnh cháo cơm vất vả, tạm bợ của hơn hai chục con người được chấm dứt. Những bữa cơm tập thể thực sự là bữa cơm đại gia đình đông vui. Dù cơm còn độn hai phần khoai sắn hay hạt bobo, với chế độ tem phiếu, nhưng có cơm nóng, canh ngọt là tốt rồi. Chị Bốn nhanh chóng hoà nhập cùng chúng tôi. Đời sống khu tập thể khá dần lên khi có được sự chăm sóc của chị. Mọi người ở nội trú đều còn rất trẻ, chưa ai có gia đình nên tôn chị Bốn làm người chị Cả. Ai cũng thương yêu chị và chị cũng hết lòng vì anh chị em.

Là Hiệu trưởng tôi thấy rất yên tâm khi có được một khu nội trú như vậy. Tôi tập trung lo cho công việc chuyên môn, công tác Hội học sinh,  sinh là con em liệt sĩ...; cùng với bao nhiêu công việc khác của địa phương. Việc đi về không giờ giấc, trễ bữa cơm đối với tôi là chuyện bình thường. Mỗi lần như thế bao giờ chị Bốn cũng san sẻ cơm canh, để phần chu đáo; khi tôi về chị bắt ngồi chờ để hâm nóng lại thức ăn, có hôm còn mua thêm vài con cá ngoài tiêu chuẩn, thậm chí chị còn chờ tôi về cùng ăn cho vui. Anh em trong nội trú thường nói đùa: “Chị Bốn cưng chìu dễ làm hư thủ trưởng”.

Một hôm đồng chí Nội trú trưởng (một chức danh do tập thể cử ra) tâm sự với tôi:

- Anh phải tính như thế nào chứ không được để chị Bốn bỏ tiền lương của mình mua thêm thức ăn cho anh em như thế, nhất là những hôm có khách ở các trường bạn đến chơi.

Tôi hơi ngạc nhiên về thông tin này, chắc các thầy, các cô nội trú dạo này khỏi lo vất vưởng từng bữa nên muốn sinh chuyện “nhiêu khê” để đề xướng nguyện vọng gì đây. Thấy tôi không có phản ứng gì, anh ta hạ giọng rỉ tai:

- Anh em trong tập thể còn nhỏ to với nhau rằng hình như chị Bốn có tình ý gì với thầy Hiệu trưởng, lo từng phần cơm khi thầy đi vắng, có hôm còn sắm thêm thức ăn nữa - Hình như thấy tôi chưa hiểu, anh ta nói thêm - Họ còn nói có lúc chị Bốn nhìn anh lạ lắm, chỉ có những người đang yêu mới nhìn như thế, có hôm làm việc khuya anh ngủ quên, chị Bốn lên móc mùng cho anh nữa.

Nghe chuyện như thế tôi hơi hốt hoảng, đã vào tuổi 27, giao du nhiều với đồng nghiệp, nhất là bạn bè hay gán ghép tôi với các cô giáo, nhưng tôi chưa dám ngỏ lời tình tứ với ai; bây giờ có tin nầy thì thật là tai quái, sẽ mang tiếng không hay cho cả hai người. Tôi hỏi vặn lại anh Nội trú trưởng:

- Vì nội trú chật nên tôi ở luôn tại Văn phòng. Tôi sống với anh em có tệ lắm không? Biết đâu có ai đó trong tập thể này đùa ác cũng nên?

Anh Nội trú trưởng khẳng định với tôi rằng những điều anh nói là có thật, ngay bản thân anh cũng nhận thấy như thế.

Lần đầu tiên tôi trải qua một đêm không ngủ với nhiều ý nghĩ mông lung, lẽ nào công việc tôi làm với lòng say mê vì học sinh, vì trường lớp, vì đồng đội... lại nhận về sự hoài nghi mù mờ như thế, có thể nói là xúc phạm quá đáng! Nhưng lục lọi lại từng việc riêng lẻ từ lúc khởi sinh khi tôi mới gặp chị Bốn rôi xâu chuỗi lại thì biết đâu cũng có lý. Có phải chăng vì tôi quá vô tư? Nếu trong chị có thực những ý nghĩ như thế, thì rất khó xử cho tôi. Tự nhiên tôi thấy giận mình, giận mọi người, rồi giận cả chị Bốn nữa. Cần phải đánh tan những suy nghĩ u mê trong mọi người.

Một buổi chiều, tôi lại về muộn bữa cơm như mọi lần. Sau khi dọn cơm cho tôi, hình như chị Bốn cố tình bịa ra một việc gì đó để có lý do ngồi chờ tôi ăn cơm rồi dọn dẹp. Nhân lúc này tôi hỏi luôn:

- Lương hưởng có bao nhiêu mà chị bỏ thêm tiền cá nhân mua thức ăn cho nội trú?

Chị trả lời một cách thản nhiên mà không nhìn tôi:

- Gặp bữa chợ cá mắm mắc quá, chị mua thêm bó rau, trái ớt chứ có nhiều nhặn chi. ở trên này chị có tiêu gì nhiều đâu!

Nhân đà này tôi tiếp tục lục vấn:

- Vì sao chị Bốn hay quan tâm đến em như vậy, trong nội trú chị đối xử không bình đẳng rồi đấy! Chị làm thế nên đã sinh chuyện!

Chị Bốn ngồi im, chăm chú vào cái áo gối đang khâu dở, hình như chị không quan tâm tới điều tôi vừa nói. Tôi hơi tự ái không nói thêm gì nữa. Không khí căng thẳng. Tôi hơi bực bội, cố ăn nhanh chén cơm để đứng dậy. Tôi vừa buông đũa thì chị nói nhanh vẻ trách móc vô cớ:

- Cứ mải mê công việc, vô tâm, vô tánh, mới gặp một lần vào đêm hôm đó, nên bây giờ em không biết chị là ai!

Tôi hơi nặng giọng:

- Chị là nhân viên của em sao lại không biết! Chị Bốn Sạ, Vũ Thị Sạ.

Vừa nói tôi vừa bước ra cửa. Chị Bốn đứng dậy gọi giật giọng:

- Lực! Em giận chị phải không? - Tôi quay lại lắc đầu, chị nói nhỏ nhẹ - ở Trường Bổ túc chờ đợi để lên đây với em! Chị là vợ anh Thóc đấy!

- Anh Thóc nào?

- Anh Thóc Giao bưu!

Nghe mấy tiếng “Thóc Giao bưu tôi đứng sững như trời trồng, trong tôi thoáng bóng một người phụ nữ nơi túp lều ven sông của 15 năm trước. Tôi xô lại lay vai chị xoay tứ phía và hét toáng lên:

- Chị Bốn! Chị Bốn! Trời ơi, sao đến bây giờ chị mới nói ra điều ấy?

Chị Bốn ngồi bất động, nước mắt rưng rưng, hai tay tôi vẫn để yên trên vai chị, tôi đứng lặng im.

Trong phút chốc, ký ức những năm tháng ở Giao bưu thức dậy tràn về, trong tôi hiển hiện vẹn nguyên hình ảnh anh Thóc - người chồng của chị Bốn - người đồng đội của tôi. ở cơ quan Giao bưu huyện Thăng Bình lúc bấy giờ, tôi là người nhỏ tuổi nhất, quan hệ trên công việc là tình đồng chí, đồng đội; ngôi thứ trong gia đình là tình cô, chú, cháu và anh, chị, em. So với mọi người, chắc có lẽ sự chênh lệch về tuổi tác giữa tôi và anh Thóc là ít nhất; bởi vậy mà hai anh em thường quấn quýt với nhau, hễ có dịp là xử ra những trò chơi vừa trẻ con, vừa người lớn có khi ngay cả trên đường đi công tác.

Trong những năm 1967, 1968 cánh Giao bưu chúng tôi sống, làm việc và chiến đấu trong tình hình rất gay go và ác liệt. Chính vì thế mà bây giờ mỗi khi nhớ về đồng đội tôi thấy mình còn nặng nợ máu xương. Đối với anh Thóc, không chỉ có tôi mà những chiến sĩ Giao bưu ngày ấy hẳn còn nhiều điều đáng nhớ!

Anh lớn hơn tôi chừng bốn năm tuổi, nhưng chỉ nhỉnh hơn tôi cái đầu, hai anh em giống nhau có nước da như cột nhà cháy, nhưng anh khác tôi là bụ bẫm, tròn như hạt mít. Anh thường bảo tôi: “Nhà nghèo quá, thiếu ăn, không lớn cao lên được nên cha mẹ đặt tên là Thóc, vậy mà vẫn cứ đói dài dài.”

Đi theo anh Thóc, tôi đã học ở anh được nhiều việc, chắc khi còn nhỏ anh cũng nghịch ngợm như tôi, nhưng ở anh có nhiều đức tính bẩm sinh mà tôi không thể học được. Tôi thường nói đùa: “ở rừng rú Thóc lanh như chồn, xuống sông lanh như rái cá”. Các chú trong cơ quan thì bảo rằng: “Thóc có cái mũi béc-giê, đi đường ngửi thấy mùi địch”.

Là Giao bưu, nhưng anh Thóc hay đi với các anh bên trinh sát. Sự gan lì, táo bạo của anh thì lính trinh sát cũng chào thua. Có đêm trên đường đi công tác, một mình mò vào khu vực Mỹ đóng quân lấy thuốc và thịt hộp về cho mấy cô ở trạm Dân y, nói rằng chiến lợi phẩm.

Đi đường gặp biệt kích, đáng lẽ phải rút êm, thì lại tìm cách ném vào bọn chúng vài trái lựu đạn hoặc vòng lại sau kéo băng AK rồi mới chịu rút chạy.

Mỗi lần họp đơn vị, anh Thóc đều bị phê bình là thiếu ý thức tổ chức kỷ luật và chủ quan khinh địch. Lần nào anh cũng nhận khuyết điểm gọn trơn, rồi lại bứt tai càu nhàu: “Gặp bọn nó là cứ ngứa ngáy chân tay, nhịn không được!”

Thế nhưng anh Thóc lại được nhiều người quý mến. Thương yêu và tin cậy anh nhất có lẽ là bác Bốn Tuấn, Bí thư huyện ủy lúc bấy giờ. Mỗi lần đi công tác xuống xã hay đi họp trên tỉnh, bác Bốn thường điều anh đi theo, vừa làm trinh sát vừa làm cần vụ. Khi đã đi cùng bác Bốn thì anh Thóc không còn là anh Giao bưu tự do, hiếu động nữa, mà trở thành một trinh sát lão luyện và là người cần vụ tận tâm. Những khi phải đưa bác Bốn hay “khách” đặc biệt qua những địa bàn lạ trong tình hình căng thẳng, anh tìm cách móc tôi theo làm chú bé chăn bò đi trước dò đường. Mỗi lần có sự cố trên đường, nghe tiếng “Nghé ò” của tôi, anh xử lý chớp nhoáng và an toàn, đến bác Bốn cũng phải khen: “Thằng nớ giỏi thiệt!”.

Đối với tôi, anh Thóc là một thần tượng, nhưng tôi cũng có cái ganh tỵ của trẻ con, mỗi khi “nổi chứng” là tôi đố anh đọc mấy câu truyền đơn thì anh chịu thua. Tiếng là mới học hết lớp 2 bậc tiểu học, nhưng tôi đã đọc thông viết thạo, lại còn thuộc được cả thơ. Dũng cảm, dạn dày như vậy nhưng anh Thóc lại không biết chữ, chỉ nhận mặt được 10 con số. Vậy mà khi mở bao công văn, tài liệu là anh phân phát đến từng cơ quan, từng xã chính xác tuyệt vời.

Anh Thóc hứa với tôi khi nào có dịp cùng đi công tác vùng sâu sẽ dẫn tôi về nhà giới thiệu với vợ. Có một lần vui chuyện, anh Thóc kể với tôi: “Vợ tao ngon lắm, hơn tao 4 tuổi, ông già bảo tao phải cưới vợ rồi mới cho đi Giao liên, mới đám cưới có mấy tháng chị ta cho tao đi liền”.

Muốn như thế nhưng lãnh đạo Ban không chịu phân công tôi đi công tác vùng sâu, đòi đi với anh Thóc lại càng không ổn. Vì muốn xuống dưới ấy phải đi qua vùng tạm chiếm và vượt Quốc lộ I vào ban đêm. Các chú sợ sự táo bạo, liều lĩnh cùng với ngịch ngợm trẻ con sẽ gây nguy hiểm vô ích.

Hôm ấy vào tình thế bắt buộc, anh Thóc và tôi được chỉ định đi công tác vùng Đông (sau này tôi mới biết là lúc ấy đang dốc sức chuẩn bị cho tổng tiến công Xuân Mậu Thân). Sau khi nhận được lệnh, anh Thóc gọi tôi “chỉnh huấn” ngay: “Đi xuống vùng sâu không thể có sơ hở được vì phải đi vào lòng địch, qua những bãi mìn, lựu đạn gài; trận địa phục kích... Vượt qua quốc lộ là lúc hiểm nghèo nhất, có thể đèn pha bất chợt quét tới, một loạt đạn bất ngờ, hay chỉ cần sơ ý vướng vào trái mìn sáng là ta phơi mình ra như giữa ban ngày để làm bia hứng đạn”.

Sợ làm tôi lo lắng, anh làm dịu bớt tình thế: “ở vùng nầy, ban đêm là của ta, ta chủ động đi tìm nó để tránh nổ súng không cần thiết. Quân đi phục kích chủ yếu là lính Ngụy, chúng rất sợ đụng quân mình, tiếng là đi phục nhưng thực tình là tìm chỗ kín rúc vô trốn, sáng mai dậy kéo về; có khi nghe mình đi đó nhưng không dám nổ súng. Khi mình giẫm đạp lên người bọn chúng hay chạm trán bắn vãi đạn cho bớt sợ”.

Anh Thóc rất am hiểu chiến trường, nói thành thạo như một Chính trị viên mặt trận: “Dọc tuyến đường từ Hương An đến Quán Gò, bọn địch không thể có đủ quân ngồi xếp hàng để phục kích. Mà nếu chúng có đủ quân làm được như thế thì giữa hai thằng lính vẫn có một chỗ hở để giao bưu đi qua”.

Trước khi đi anh Thóc chuẩn bị tư tưởng cho tôi như thế thì quá kỹ. Lợi dụng trời nhiều mây, không có máy bay trinh sát của địch, khoảng hơn 5 giờ chiều hai anh em đã lần xuống đến vùng giáp ranh giữa Bình Quý với Bình Tú. Hai anh em chọn một vị trí vừa kín đáo vừa thoáng tầm nhìn để quan sát. Phía trước là cánh đồng trống mênh mông lác đác có vài ngọn dương liễu vươn cao như những ngọn giáo đâm lên trời; những bờ dứa dại vẫn giữ được mầu xanh nguyên sơ giữa vùng đất cát pha khô khốc; trông Quốc lộ I như một con đê đen sì. Trên Quốc lộ I cảnh nhân dân đi lại bình thường; thỉnh thoảng có những đoàn xe nhà binh chạy từ hướng Tam Kỳ ra Hà Lam.

Tranh thủ lúc trời còn sáng, anh Thóc đưa tay chỉ về phía trước và nói rõ đặc điểm địa hình: “Đêm nay cứ nhằm thẳng hướng phía trước mà đi, chếch về phía tay trái là xóm Cây Cốc, chếch về phía tay phải là xóm Nhà thờ, nhìn thẳng góc chỗ có 2 tấm bia nhô song song là Cống Cao, qua khỏi quốc lộ, đi hết cánh đồng trống là đến vùng tự do Bình Phục, Bình Triều - Anh vỗ vỗ vào lưng tôi rôi nói tiếp - Khuya ghé Hưng Mỹ ăn mì tôm, ngon lắm”.

Sau cùng anh Thóc dặn thêm cách vượt quốc lộ: “Anh đi trước, em đi sau cố giữ cự ly, khom người lần từng bước hết sức nhẹ nhàng, tránh phát ra tiếng động; nếu lỡ bị phục kích, nghe súng nổ thì lăn chứ không nên chạy; nếu bị lạc hướng thì tìm chỗ cao và địa thế an toàn ngồi chờ sáng, đi ngược phía hừng đông là trở về phía trên mình; nếu bị lạc sâu quá, trời sáng không rút kịp thì tìm bụi dứa rậm rúc vào “ngủ ngày” chờ trời tối”.

Hai anh em kiên nhẫn ngồi đợi. Đêm tối bao phủ, sương xuống hơi lành lạnh, khi phía quốc lộ không còn ánh đèn nào nữa, hai anh em âm thầm lặng lẽ tiến dần về phía trước. Không gian tối đen và đặc quánh có thể cắt ra thành từng mảnh, chỉ có nghe tiếng gió giữa đồng không hoang vu. Không biết đã đi được bao lâu rồi, hết bờ lại ruộng, hết ruộng lại bờ. Nếu bình thường thì chừng ấy thời gian tôi phải đi được mươi cây số. Đang đi, anh Thóc ra hiệu dừng lại rồi kéo tôi ngồi xuống lắng tai nghe. Anh ghé sát vào mặt tôi đồng thời lấy 2 ngón tay để lên mũi hít hít mấy cái. Tôi biết như vậy là anh đã nghe có mùi lạ. Chung quanh vẫn lặng yên như tờ. Anh đổi hướng kéo tôi bò chếch về bên phải. Qua mấy đám đất cày, trườn qua một doi bờ lớn, chúng tôi đã nằm ngay chân Quốc lộ. Nghe ngóng không có động tĩnh gì, anh kéo tôi trèo lên mặt đường và chỉ dăm ba bước là chúng tôi đã ở phía bên kia Quốc lộ. Sau một lúc vừa nghỉ vừa chờ đợi, lại những bước thận trọng, chúng tôi nhanh chóng vượt qua cánh đồng trống đến ngồi nghỉ chân trên bờ dương liễu ở cuối cánh đồng. Anh Thóc thở phào và nói tự nhiên: “Qua ngon lành nghe, bắt đầu từ đây là vùng tự do của ta.” Tôi cảm thấy rất khoái như vừa lập được một chiến công.

Vừa ngồi được một lúc, anh Thóc dúi vào tay tôi túi tài liệu và nói: “Đi chéo vào là chợ Hưng Mỹ, đi ra là chợ Được, ngồi đây chờ, xong việc là anh quay lại ngay”. Tôi chưa kịp hỏi thì anh đã biến vào đêm tối. Tôi nghĩ chắc anh lại “ngửi” thấy mùi lạ. Anh đi được một lúc, tôi quay lại và nhìn lên phía hướng Quốc lộ. Bỗng thấy một ánh chớp loé sáng và tiếp theo là tiếng nổ vang rền, cùng với tiếng súng dậy lên đồng loạt như bắp rang. Nhìn theo hướng mấy viên đạn lửa và nghe tiếng súng là biết bọn địch đang xả đạn lên trời và ngược về phía Tây.

Sau một hồi súng nổ dữ dội, một vài ngọn hoả châu từ phía đồn Tuần Dưỡng bắn ra lập loè treo lơ lửng giữa trời. Màn đêm trở lại im lìm. Tôi cảm thấy lo lắng, căng mắt nhìn chung quanh. Qua ánh sáng mờ mờ của ngọn hoả châu, tôi nhận ra anh Thóc đang lom khom chạy tới. Anh vừa nói vừa thở: “Xong rồi, đi!”. Hoá ra khi chuẩn bị vượt qua lộ anh đã ngửi thấy thấy mùi thuốc lá Quân tiếp vụ, đoán được bọn địch đang nằm phục kích dưới Cống Cao nên anh kéo tôi đi chéo vào phía hướng Nhà thờ; sau khi đưa tôi qua khỏi vùng nguy hiểm, anh quay lại “tương” xuống cống trái lựu đạn rồi rút êm.

Đến chợ Hưng Mỹ, hai anh em vừa bước vào quán mì Quảng đang chong đèn, mọi người xúm lại hỏi: “Súng nổ dữ rứa, anh em mình có hề chi không?”. Anh Thóc trả lời pha một chút khôi hài: “Chẳng hề chi hết, gặp anh em tôi bọn chúng sợ quá bỏ chạy rồi vướng vào lựu đạn, bắn nhầm lẫn nhau đấy mà - Mọi người cùng cười - Mình làm nó mất mấy gánh đạn, mai coi thử chết mấy tên nói lại nghe chơi!”.

Hai anh em được thưởng mấy tô mì Quảng đầy ụ, lại được chị chủ quán đãi thêm đĩa tôm vàng ươm. Ăn uống vừa xong, đồng chí Giao liên xã Bình Triều cũng vừa tới. Giao nhận tài liệu xong, anh Thóc dẫn tôi tắt qua cánh đồng, rồi dọc theo bờ sông đưa tôi về nhà.

Dù trời tối, nhưng với đôi mắt quen nhìn trong đêm, tôi vẫn nhận ra một căn lều đứng nép vào bụi tre sát bờ sông. Anh Thóc gọi to: “Mình ơi!”. Không phải chờ đợi lâu, cánh cửa liếp được chống lên, anh nắm tay tôi kéo vào nhà, nói một câu như đã chuẩn bị sẵn: “Thằng Lực về đó. Mình ra nhận em kết nghĩa với tôi đi!”.

Trước mắt tôi là một phụ nữ cao dong dỏng; ngọn đèn dầu tuy có được khêu tỏ hơn, nhưng tôi không nhìn rõ khuôn mặt của chị; không cần so đo tôi cũng nhận thấy là chị cao hơn anh Thóc nửa cái đầu. Chị đứng tựa cửa buồng, hơi e thẹn nhìn tôi rồi hỏi nhỏ nhẹ: “Hai anh em ăn chi chưa?”. Dù còn nhỏ nhưng tôi cũng đã biết được rằng không nên kéo dài thời gian vào lúc nầy. Tôi trả lời ngay: “Dạ! Vừa được thưởng 2 tô mì với đĩa tôm rồi, bây giờ em buồn ngủ.”

Ngả lưng xuống chiếc sạp tre kê sẵn tôi vô tư đánh một giấc ngon lành; khi anh Thóc lay dậy thì trời đã sáng bạch. Tôi nhìn quanh, anh Thóc biết ý, nói ngay: “Ham ngủ quá đi! Chị mày ra nò rồi. Rửa mặt đi, vô làm lẹ cái nầy, còn sang Bình Dương.” Anh bưng lên cái sàng (thay cho cái mâm): rau muống, chồng bánh tráng sắn và đĩa cá nục to - một món ăn quý phái ở vùng thôn dã, chắc đến giờ hẳn nhiều người vẫn còn nhớ.

Chỉ trong vòng một ngày, chúng tôi giao xong toàn bộ công văn, giấy tờ cho các cơ sở và ngay tối hôm đó theo đoàn dân công trở lên, về khu Phước Cang Đồng Linh. Sau chuyến đi công tác vùng sâu lần ấy tôi cảm thấy mình lớn lên rất nhiều.

Những ngày tháng tiếp theo, cả cơ quan Giao bưu tập trung chuẩn bị cho mùa chiến dịch, tôi được phân công đảm nhận đường dây cho các xã vùng Tây, anh Thóc đặc trách lên xuống vùng Đông nên hai anh em ít có dịp đi chung với nhau.

Cuối năm 1968, tình hình chiến trường miền Nam bước vào giai đoạn khốc liệt nhất. Tôi có lệnh được chuyển đi miền Bắc. Anh Thóc được phân công đưa tôi vào Bưu trạm Kỳ An để giao cho đường dây Giao bưu tỉnh Quảng Nam. Lần đầu tiên hai anh em ôm nhau khóc. Trước khi chia tay, anh quàng vào cổ tôi tấm vải dù hoa và dặn: “Ra ngoài nớ em sẽ được gặp Bác Hồ, được chữa bệnh sốt rét, nhớ cố gắng học tập. Nay mai thống nhất, anh lại dẫn em về Bình Giang ăn cá nục cuốn bánh tráng”.

Đến năm 1972, từ Quảng Ninh, tôi nhận được thư của chú Đông - Phó ban Giao bưu huyện lúc bấy giờ - kể chuyện anh Thóc trong một đêm công tác bị rơi vào ổ phục kích, đã chủ động nổ súng thu hút hoả lực địch về phía mình để bảo vệ an toàn cho đoàn cán bộ vượt qua Quốc lộ I. Và anh đã anh dũng hy sinh trong trận chiến đấu ấy. Thời gian lần lữa trôi qua, giữa bao nhiêu công việc bề bộn của đời thường, tôi gần như quên khuấy hình ảnh chị vợ anh Thóc trong căn lều ven sông vào đêm hôm ấy. Với chị thì khác, dù khoảng khắc trong đêm cũng đủ để ghi lại hình ảnh đứa em kết nghĩa là đồng đội của chồng. Mười mấy năm biền biệt, lặng thầm, chị vẫn biết tôi đang đi về đâu.

Ngay ngày hôm sau, câu chuyện về anh Thóc, chồng chị Bốn năm xưa với thầy Hiệu trưởng bây giờ là hai anh em kết nghĩa và là đồng đội của nhau trong chiến tranh lan ra cả Hội đồng sư phạm, rồi đến học sinh, sau đó đến cả phụ huynh trong xã. Lúc này mọi người mới biết được rằng chị Bốn lên nhận công tác tại Trường PTCS Bình Lãnh không phải là ngẫu nhiên, mà đi theo tiếng gọi đồng đội của người chồng./.

Đà Nẵng, tháng 7 năm 2000