Chuyện hôm qua - Chuyện hôm nay

 •  14:31 thứ năm ngày 12/08/2004
Nguyễn Ninh Thới(Ghi theo lời kể của đồng chí Nguyễn Văn Long, hiện là Phó giám đốc Sở giao thông vận tải tỉnh Vĩnh Long).Chị Ba An cầm xấp tiền nhét vào túi Má Hai. Má nắm tay chị đẩy ra, cằn nhằn:- Tao nói là tao không lấy mà bây cứ làm khổ tao hoài!Chị Ba năn nỉ, giọng chị như sắp khóc:- Má ơi, Má không nhận làm con càng khổ hơn!Chuyện xảy ra tại ngôi nhà tình nghĩa của Má Hai tại ấp An Thành, xã An Bình, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long trong dịp lễ mừng thọ Má Hai tròn chín mươi tuổi, vào tháng 9 năm 2000 vừa qua.

Lễ mừng thọ Má Hai được chính quyền địa phương tổ chức, có cả đồng chí Bí thư và Chủ tịch xã đến dự. Anh Ba Long hiện đang là Phó Giám đốc Sở Giao thông vận tải, đại diện Ban giao bưu cũ đến chúc thọ Má Hai.

Nhiều người lấy làm lạ, là vì chị Ba cứ nằng nặc đòi giao xấp tiền, còn Má Hai thì một mực từ chối, thậm chí còn tỏ ra giận dỗi vì chị Ba cứ nhét tiền vào túi Má hoài.

Trong số những người chứng kiến chỉ có anh Ba Long là người hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện. Thấy tôi có vẻ thắc mắc, anh vỗ vai tôi nói: “Chuyện dài lắm. Để dịp nào tôi kể cho ông nghe”.

Mấy hôm sau, tôi có dịp đến Sở Giao thông vận tải tỉnh Vĩnh Long, gặp anh Ba Long (Nguyễn Văn Long). Đang lúc rảnh việc, anh rót trà mời tôi và thong thả kể lại đầu đuôi câu chuyện...

Năm 1972, trạm thường trực của Ban giao bưu vận tỉnh Vĩnh Long đóng quân tại ấp Bình Phú, xã Loan Mỹ, huyện Tam Bình. Lúc này anh Tám Thợ (Tám Thợ (Nguyễn Văn Chiễu), nguyên Phó Ban giao bưu vận tỉnh Vĩnh Long, nay nghỉ hưu ở xã Ba Trinh, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng) là Trưởng trạm, tôi là Phó trạm. Cách chỗ chúng tôi vài trăm mét là trạm L.30 do anh Hai Hiệp làm Trưởng trạm, đóng quân tại nhà bác Tư Đời, cũng thuộc ấp Bình Phú, xã Loan Mỹ. Trạm L.30 có nhiệm vụ bắt tay với trạm L.10 đóng quân tại xã Tân Mỹ, huyện Trà Ôn. Từ ấp Bình Phú muốn tới xã Tân Mỹ phải vượt qua cánh đồng Gò Răng, qua lộ Ba Phố, thuộc địa bàn xã Loan Mỹ, rồi đến xã Bình Ninh và vượt sông Măng Thít rộng khoảng ba trăm mét. Trạm Tân Mỹ đóng bên kia bờ Nam sông Măng Thít. Đường dây này đi xuyên qua địa bàn tỉnh Trà Vinh, qua sông Hậu, về tỉnh Sóc Trăng rồi đến Cà Mau, nối với Giao bưu vận Khu 9, ký hiệu T.3.

Suốt hai tháng qua, đoạn đường từ giữa hai trạm Bình Phú và xã Tân Mỹ bị phong toả gắt gao, hành trình hoàn toàn bị gián đoạn, tài liệu và khách ứ đọng không cách nào giải quyết được. Lãnh đạo Ban giao bưu vận tỉnh đề ra khẩu hiệu: “Mở đường mà đi, đánh địch mà tiến”. Nhiều cán bộ chiến sĩ xung phong đột phá mở con đường máu, quyết tâm giải toả số khách và tài liệu ứ đọng. Nhưng tất cả đều không trở về, vĩnh viễn nằm lại trên tuyến đường máu lửa này.

Từ trạm Bình Phú đến trạm Tân Mỹ đường chim bay không đầy tám cây số, nhưng địch bố trí một đại đội bảo an, một đại đội dân vệ, một trung đội biệt kích của quận Tam Bình, hai trung đội dân vệ của xã Loan Mỹ do tên Chằng Hum ác ôn khét tiếng cầm đầu cùng với hệ thống gián điệp và tai mắt dày đặc. Trên sông Măng Thít, ở đoạn giữa hai trạm có bốn tàu sắt, tám chiếc hô-bo, cứ cách nhau chừng năm phút có một chiếc chạy ngang qua, dùng đèn pha quan sát, một trái dừa khô trôi trên mặt nước cũng không qua mắt được bọn chúng.

Trước đây ta vượt sông Măng Thít bằng cách nắm quy luật tuần tra của địch, rồi dùng loại ghe vỏ lãi gắn máy BS.9 băng qua trong vòng một phút rưỡi. Nhưng bây giờ thì không thể được. Địch dùng hô-bo, tàu sắt giăng dọc dài theo sông, dùng đèn pha rọi giáp tầm mắt. Cán bộ chiến sĩ giao liên liều mình đội lục bình lội qua sông, nhưng cũng không thoát. Địch bắn như vãi đạn vào bất kỳ giề lục bình nào mà chúng ngó thấy. Chỉ trong hai tháng đã có đến tám chiến sĩ giao liên bị bắn chìm trôi mất xác.

Tuyến đường này là bản lề nối liền giữa hai bờ Nam - Bắc sông Măng Thít, giữa hai tỉnh Trà Vinh - Vĩnh Long và giữa khu 9 và khu 8. Việc nó bị cắt đứt làm cho số lượng tài liệu và khách bị ứ đọng, tạo ra sự bức xúc ghê gớm. Tỉnh ủy Vĩnh Long và các đồng chí lãnh đạo Ban giao bưu vận tỉnh nôn nóng như ngồi trên đống lửa. Nhiều sự kiện dã man ác độc của tên Chằng Hum cũng gắn liền với tuyến đường này. Hắn tên là Thạch Hum, nhưng vì hành động hung ác của hắn, nên bà con người Khơme gọi hắn là Chằng Hum. Hai sự kiện gần đây nhất thể hiện rõ tâm địa chằng tinh ác thú của hắn. Hai chiến sĩ giao liên của trạm L.30 và một anh du kích xã Loan Mỹ xung phong mở đường, bị tên Chằng Hum phục kích bao vây bắt sống. Hắn cho người đè tay chân, rồi dùng dao lê khoét một vòng quanh hậu môn của ba chiến sĩ kéo ra một đống ruột và để mặc cho các đồng chí ta nằm quằn quại đau đớn tột cùng, hơn một giờ sau mới tắt thở. Một tuần lễ sau, chị Chín Mai, là cán bộ giao liên bán công khai đang mang thai đến tháng thứ tám, được lệnh đem tài liệu hoả tốc vượt qua đoạn đường này bằng cách đóng vai người đi cắt lúa mướn. Chị đội nón lá, tay xách lưỡi hái và mặc đồ như một phụ nữ nông dân. Đi được nửa đoạn đường thì tên Chằng Hum xuất hiện đón đầu. Chị bình tĩnh cho rớt bó tài liệu trong người xuống đất, rồi lấy chân khều rơm lấp lên. Thật không may, kế bên chị, trong đám lúa chưa cắt có một toán lính ém mình phục kích ngó thấy hành động của chị. Chúng bắt chị đem về trụ sở xã Loan Mỹ. Tại đây tên Chằng Hum cầm dao lê cắt đứt hai đầu vú và mổ bụng sống, lôi đứa con trong bụng chị ra. Bà con Khơme gần đó nhiều người ôm mặt kêu trời. Họ cho biết đứa bé trong bụng chị Chín Mai là con trai.

Trong những ngày căng thẳng như thế, một hôm tôi còn nhớ rất rõ, anh Tư Triệu (Lê Văn Triệu) đến gặp tôi và nói:

- Long ơi! em ra sau hè anh có chuyện muốn nói với em.

Năm đó (1972) tôi mới vừa tròn hai mươi tuổi, anh Tư Triệu đã trên ba mươi. Anh vừa là đàn anh vừa là cấp trên của tôi. Bấy giờ anh đã là ủy viên Ban giao bưu vận tỉnh. Việc anh kêu ra sau hè nói chuyện, tôi đoán có lẽ chuyện riêng giữa hai anh em vì lúc đó trong nhà có mấy người khách.

Tôi và anh đứng bên gốc dừa. Gương mặt anh có vẻ trầm lặng. Anh nói:

- Long à, nội đêm nay anh phải vượt sông Măng Thít đưa thơ hoả tốc của Tỉnh ủy về Trà Vinh. Trước khi đi anh có việc nhờ em, mong em cố gắng giúp anh.

Anh Tư Triệu móc trong túi ra một gói giấy được gói cẩn thận, anh nói:

- Đây là số tiền mười hai ngàn đồng và hai chiếc nhẫn của chị Tư em gởi cho anh nhiều lần trong mấy năm qua nhưng anh không xài. Vả lại cũng không có việc gì cần xài. Bây giờ em cất nó dùm anh. Nếu chẳng may anh hy sinh trong chuyến đi này thì em tìm cách gởi về cho má anh. Má cần tiền để dưỡng già. à, còn tấm hình này anh gửi về cho chị Tư em.

Tôi cầm lấy từ tay anh. Đó là tấm hình anh chụp chung với vợ và đứa con gái chừng hai tuổi.

Dặn dò như vậy rồi anh Tư Triệu ra đi. Lúc đó là bốn giờ chiều ngày 08 tháng 02 năm 1972. Đi với anh còn có một chiến sĩ giao liên tên út Minh. Có lẽ nội dung bức thơ hoả tốc rất quan trọng, nên trực tiếp anh Tư là ủy viên Ban giao bưu vận phải mang đi.

Chia tay với anh Tư Triệu sao lòng tôi buồn quá. Tôi từng chứng kiến biết bao đồng đội hy sinh trên cung đường này, vậy mà không hiểu vì sao chiều nay chợt nhớ tới lời nói của anh Tư vừa rồi nước mắt tôi cứ lặng lẽ chảy ra không kềm được. Hình như cả anh và tôi đều linh cảm rằng đây là cuộc chia ly vĩnh viễn. Thấy tôi ngồi khóc một mình, anh Năm Tiền, Phó Ban giao bưu vận tới gần, anh khẽ khàng hỏi nhỏ:

- Long, sao em khóc? Nhớ nhà hả?

Tôi lấy hai chiếc nhẫn trao cho anh và nói tóm tắt để anh hiểu. Anh Năm Tiền thở dài, nói:

- Tỉnh ủy đã có phương án khẩn cấp giải toả tuyến đường này. Nếu chậm trễ chắc đến lượt anh em mình cũng phải hy sinh thôi. Ba lẻ sáu đã về rồi! (306 - Tiểu đoàn chủ lực thiện nghệ của quân khu 9, nổi danh đánh đâu thắng đó). Phương án của ta là dùng chủ lực quét sạch bọn chiếm đóng rồi sau đó hỗ trợ phong trào nhân dân du kích chiến tranh, gài chông, lôi, rào ấp giữ làng, quyết bám trụ bảo vệ con đường huyết mạch này...

Anh Năm Tiền cứ nói nhưng đầu óc tôi rối bời nào có nghe được gì. Tôi chạy ra sau hè trèo lên cây sắn ngóng mắt về hướng anh Tư Triệu ra đi. Tôi trèo lên tuột xuống không biết bao nhiêu lần, cho đến khi trời tối mịt mới thôi.

Đến khoảng mười giờ đêm hôm đó (đêm ngày 08 tháng 02 năm 1972) bỗng có tiếng súng nổ rộ ở hướng lộ Ba Phố. Tôi vội trèo lên ngọn sắn thấy đạn bay đỏ rực trong bóng đêm. Lòng tôi cứ sờ sợ về sự linh cảm của mình. Lộ Ba Phố là con đường mà đêm nay anh Tư Triệu và út Minh phải băng qua trước khi vượt sông Măng Thít.

Sáng sớm hôm sau (ngày 09 tháng 02 năm 1972), chú út Lỗ Trưởng Ban giao bưu vận phân công chị Hồng Hoa là giao liên bán khai, bơi xuồng ra chợ Tam Bình thăm dò tin tức. Khoảng mười hai giờ trưa chị Hồng Hoa trở về báo tin anh Tư Triệu và út Minh đã hy sinh. Địch kéo hai anh về chợ Cũ dập mất xác ở đó. Chị Hồng Hoa cho cơ sở tìm gặp nơi bọn lính đã vùi xác hai anh chung một chỗ và làm dấu để sau này ta đem hài cốt về. Còn lá thơ tối mật của Tỉnh ủy theo chị Hồng Hoa thì bọn địch không lấy được. Vì như quy định thì anh Tư Triệu phải ngậm trong miệng, nếu gặp sự cố bất trắc thì nhai và nuốt nó luôn. Trước đó anh Bé Thọ là ủy viên Ban bị địch phục kích chết trên lộ Lấp Vò, khi đồng đội đem xác về, cạy miệng ra thấy bức thơ tối mật anh còn ngậm chặt bên trong.

Nếu như anh Tư Triệu không kêu tôi ra sau hè, không gửi lại những kỷ vật và nhìn tôi ân cần nói những lời chia tay thì chắc tôi không đau buồn đến như vầy. Là một chiến sĩ giao liên đứng trên chiến trường ác liệt như thế này, anh em chúng tôi không ai dám nghĩ rằng mình có thể sống đến ngày độc lập. Thế nhưng trước cái chết mà chính anh Tư Triệu và tôi đã linh cảm thấy trước mà rồi nó vẫn đến một cách lạnh lùng... khiến cho cái chết... nó rờn rợn làm sao.

Ngay sau khi nghe tin anh Tư Triệu đã hy sinh, tôi và anh Năm Tiền lên gặp chú út Lỗ, xin ý kiến giải quyết về số kỷ vật mà anh Tư trao lại. Chú út Lỗ đề nghị số tiền mười hai ngàn đồng giao thủ quỹ cơ quan quản lý, còn hai chiếc nhẫn thì tôi cứ giữ để chờ có dịp sẽ gởi về cho Má Hai (Má ruột của anh Tư Triệu).

Giữ hai chiếc nhẫn mà tôi không an tâm. Một hôm tôi kêu anh Tám Thợ lại giao cho anh một chiếc (bằng hai chỉ vàng 24K) với lý do nếu tôi hy sinh thì anh Tám Thợ cũng còn lại một chiếc. Anh Tám Thợ bèn giẫy nẩy: “Rủi tao hy sinh thì tính sao?”, “Thì tôi cũng còn lại một chiếc”- Tôi trả lời.

Khoảng nửa tháng sau, anh Tám Thợ dẫn về cơ quan một anh bộ đội khoảng ba mươi tuổi tên là Ba An, cán bộ đại đội của tiểu đoàn 306. Anh này là người cùng quê với Má Hai ở xã An Bình, huyện Cái Nhum lúc bấy giờ (nay xã An Bình thuộc huyện Long Hồ). Dịp may hiếm có, chú út Lỗ đề nghị trao ngay số tiền mười hai ngàn đồng và hai chiếc nhẫn, cả tấm hình để anh bộ đội đem về cho Má Hai. Vì anh này đang trên đường công tác sẽ tạt qua thăm nhà. Anh Tám Thợ quá cẩn thận còn bắt đồng chí Ba An làm biên nhận. Vậy là yên tâm, tôi rất mừng vì đã thực hiện được lời dặn dò của anh Tư Triệu trước lúc hy sinh.

Trải qua cuộc chiến tranh chống Mỹ, đơn vị giao bưu vận tỉnh của chúng tôi hy sinh 327 đồng chí (chưa kể giao bưu vận của các huyện và xã). Tôi thật sự không lý giải được vì sao tôi vẫn còn sống sót. Rất nhiều lần cái chết chỉ cách trong đường tơ kẽ tóc nhưng rồi nó vẫn không chọn tôi. Bây giờ khi trái gió trở trời các vết thương trên người tôi đau ê ẩm. Những lúc như thế, vợ tôi hay lấy tay xoa xoa lên vết thương của tôi mà nói: “Đừng rên. Bạn bè đồng chí của anh đã hy sinh gần hết, anh được như vầy là may mắn lắm rồi!”. Kỳ lạ thay, câu nói đó với tôi bao giờ cũng là một liều thuốc giảm đau rất hiệu nghiệm.

Ngày 01 tháng 5 năm 1975 đơn vị Giao bưu vận chia làm hai bộ phận để tiếp quản hai cơ quan của địch: Ty Bưu điện và Ty Giao thông công chánh. Các anh Năm Tiền, Tám Thợ và tôi được phân công về Ty Giao thông công chánh.

Công việc trong những ngày sau giải phóng hết sức tất bật bộn bề. Giữa lúc ấy, một hôm Má Hai bước vào cơ quan. Gặp Má, anh em chúng tôi rất vui mừng. Nhưng sau đó ai cũng bùi ngùi khi Má hỏi về trường hợp hy sinh của anh Tư Triệu. Tôi kể lại đầu đuôi câu chuyện và hỏi số tiền và hai chiếc nhẫn anh Tư gởi lại cho Má, chúng tôi đã chuyển về qua một anh bộ đội, vậy Má có nhận được chưa. Ai cũng chưng hửng nhìn nhau khi nghe Má nói tỉnh queo: “Chưa”.

Bấy giờ chúng tôi mới hốt hoảng, vội vã đi tìm anh Ba An. Khi gặp các đồng chí lãnh đạo Tiểu đoàn 306 mới hay anh Ba An đã hy sinh trên đường về huyện Cái Nhum công tác vào cuối năm 1972. Địch lấy được tài liệu và vùi thây anh mất xác. Số tiền và kỷ vật nêu trên, đơn vị anh không một ai nghe nói tới. Sự hy vọng anh Ba An sẽ trao lại cho một ai đó thật là mỏng manh. Có lẽ nó đã lọt vào tay địch cùng với số tài liệu mà anh mang theo.

Tôi buồn nẫu cả ruột gan, vì cuối cùng ý nguyện của anh Tư Triệu vẫn không thực hiện được, nhưng đành vậy thôi. Cả anh Ba An cũng hy sinh rồi! Thương cho anh quá.

Những ngày sau giải phóng, lúc rảnh rỗi tôi hay kể chuyện về gương hy sinh của anh Tư Triệu và các đồng chí khác trong ngành giao bưu vận cho các anh em còn trẻ nghe. Tôi rất vui khi thấy anh em thích nghe và tỏ ra xúc động. Không ngờ câu chuyện lần hồi đến tai chị Ba An. Một hôm chị đến gặp tôi và anh Tám Thợ đòi xem cho bằng được cái biên nhận mà anh Ba An đã viết cho anh Tám Thợ khi anh nhận số tiền và kỷ vật từ tay chúng tôi. Anh Tám Thợ nói:

- Chị Ba ơi, chuyện xảy ra đã lâu rồi và anh Ba cũng đã hy sinh. Ai nỡ lòng nào đòi hỏi trách nhiệm, vậy chị cũng không nên tự dằn vặt làm gì!

Nhưng chị Ba nói là muốn được xem bút tích của chồng, đó chỉ là một nguyện vọng tình cảm, nên anh Tám Thợ đành phải đi lục cho chị xem.

Nhìn tuồng chữ của chồng, chị Ba khóc nức nở. Anh Tám Thợ và tôi cũng không cầm lòng được.

Chị Ba cẩn thận xếp tờ biên nhận bỏ túi rồi đứng dậy nói đột ngột:

- Dù anh Ba hy sinh rồi nhưng tôi hứa sẽ lo trả số tiền này cho Má Hai. Các chú đừng lo, tôi muốn làm vậy cho chồng tôi yên lòng nơi chín suối.

Chị Ba nói dứt khoát rồi đi ra khiến tôi và anh Tám Thợ trố mắt nhìn nhau.

Vậy rồi từ đó đến nay đã bao nhiêu năm mà cuộc “tranh chấp” giữa chị Ba An với Má Hai vẫn chưa ngã ngũ. Chị Ba cứ chờ hễ mỗi lần Má Hai bị đau ốm hay nhà Má có giỗ quảy gì là chị cầm một ít tiền đem qua năn nỉ đòi Má Hai phải nhận cho anh Ba An được vui lòng và chị cũng bớt đi nỗi ray rứt. Còn Má Hai thì vẫn một mực nói: “Bậy nè. Ai làm kỳ vậy!”...

Toàn bộ câu chuyện mà anh Ba Long kể với tôi là như vậy, tôi không còn gì để thắc mắc. Là người ngoài cuộc, từ cha sanh mẹ đẻ đến nay tôi chưa từng thấy kiểu “tranh chấp” nào lạ lùng như sự “tranh chấp” của chị Ba An với bà Má Hai ở An Bình. Thông thường người ta tranh chấp để đòi hỏi quyền lợi và sự hưởng thụ về phía mình. Còn đây là sự tranh chấp để đòi cho bằng được sự hy sinh và thiệt thòi về cho mình. Thật là sự hiếm thấy trên đời vậy./.