Kỷ niệm chiến đấu ở Bưu điện Bờ Hồ

 •  14:11 thứ năm ngày 12/08/2004
Bùi Quý Quận(1)Sống xa Hà Nội gần 20 năm từ khi nghỉ hưu quân đội, nhưng mỗi lần có dịp về thăm Thủ đô, đi bên Hồ Gươm, nhìn thấy ngôi nhà Bưu điện cũ vẫn đứng vững vàng giữa vườn hoa Chí Linh và toà nhà Bưu điện mới nguy nga, đồ sộ, tôi lại bồi hồi nhớ về đồng đội của mình, những chiến sĩ Vệ quốc quân thuộc Đại đội I, Tiểu đoàn 101, Vệ quốc đoàn khu đặc biệt Hà Nội, đã chiến đấu bảo vệ Trung tâm thông tin này của cả nước sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trẻ tuổi mới ra đời được 15 tháng, 17 ngày. Tôi nhớ đến anh Hồng (tức Hoàng Bắc(Anh Hồng, tức Hoàng Bắc sau này làm Tham tán Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc, năm 1956 nhà ở 20 Hàng Chuối, Hà Nội)) nguyên Thư ký Công đoàn Bưu điện và những công nhân, viên chức đã sát cánh cùng chúng tôi trong chiến đấu. Anh Hoàng Bắc và những người lãnh đạo cao tuổi của Ngành đã mất hoặc về hưu từ lâu, những lớp người kế tiếp các anh đã và đang lãnh đạo sự nghiệp bưu chính, viễn thông của nước nhà, phát triển tới đỉnh cao của khoa học, kỹ thuật thông tin hiện đại, sánh vai cùng đồng nghiệp ở các nước có nền công nghiệp tiên tiến nhất thế giới. Song đã có mấy ai, lúc nào đó dành ra một phút để nghĩ tới những người đã chiến đấu quyết liệt bằng cả máu và tính mạng của mình để bảo vệ cơ sở đầu tiên này của Ngành, trong đó những người đã ngã xuống không còn có cơ hội để thấy được bước nhảy vọt thần kỳ của Bưu điện Việt Nam hôm nay.

Hãy nhìn lại những năm 40 của thế kỷ chúng ta đang sống, trên thế giới và trong nước ta đã có biết bao sự kiện chính trị diễn ra, liên quan mật thiết với nhau.

Đại chiến thế giới thứ hai kết thúc. Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng quân Đồng minh thì năm ngày sau đó Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là lãnh tụ Nguyễn ái Quốc tức Hồ Chí Minh phát động vũ trang Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc, giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Hà Nội tổng khởi nghĩa thành công. Ngày 02 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn Độc lập nổi tiếng ở vườn hoa Ba Đình, Hà Nội khẳng định với toàn thể nhân dân Việt Nam và thế giới sự ra đời và tồn tại của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Sau khi Nhật đầu hàng, quân Đồng Minh kéo vào Đông Dương với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật.

ở phía Nam nước ta, từ Đà Nẵng trở vào đại diện cho quân Đồng Minh là quân Anh - ấn, núp sau bóng đội quân này là quân Pháp. ở phía Bắc từ Đà Nẵng trở ra là quân Quốc Dân Đảng Trung Hoa, núp sau chúng là bọn phản động Việt Quốc, Việt Cách.

Do hoàn cảnh đặc biệt, theo thoả thuận của quân Đồng Minh với sự chấp nhận của Chính phủ ta, quân Pháp được vào miền Bắc làm nhiệm vụ tiếp phòng thay thế quân Tầu Tưởng rút về nước.

Chúng chia quân ra đóng ở nhiều nơi, tập trung đông nhất là ở Thủ đô Hà Nội. Tại đây chúng đóng ở Phủ toàn quyền cũ, thành Hà Nội, trường Bưởi, nhà Ngân hàng, Đồn thủy, Nhà máy đèn và một số vị trí lẻ khác. Chúng bí mật ém quân ở khách sạn Mê-Tờ-Rô-Pôn (Mêtropôle) đối diện với Bắc Bộ Phủ.

Theo Hiệp định sơ bộ ngày 06 tháng 3 năm 1946 thì Pháp coi Việt Nam là một nước tự do nằm trong khối liên hiệp Pháp nhưng trên thực tế thì chúng mang âm mưu lập lại quyền thống trị đất nước ta. Ngay từ 23 tháng 9 năm 1945 quân Pháp ở phía Nam đã nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Chiến tranh từ đó lan rộng ra khắp phía Nam và cả Tây Bắc nước ta cũng như Cămpuchia và Lào. Từ tháng 10 năm 1945 những Chi đội Giải phóng quân ở chiến khu Việt Bắc về tới Hà Nội đã vội vã lên đường vào Nam chiến đấu. Phong trào thanh niên tòng quân Nam tiến đánh giặc cứu nước rộ lên ở khắp các nơi trong nước.

Cuối tháng 11 năm 1946 quân Pháp đánh chiếm cảng Hải Phòng và tỉnh Lạng Sơn. Tình hình Thủ đô Hà Nội ngày càng trở nên căng thẳng, phức tạp do các hành động khiêu khích có tổ chức của lính Pháp đóng tại đây. Đầu tháng 12, xe tăng, xe bọc thép Pháp tràn ra các đường phố. Lính Pháp xé cờ Việt Nam, bắt cóc cán bộ và thường dân, bắn vào tầu điện. Máy bay bà đầm già (Morane, động cơ cánh quạt) bay lượn trên bầu trời Bắc Bộ Phủ và Nhà Bưu điện. Chính phủ ta quyết định tiến hành những biện pháp tự vệ: Kêu gọi dân chúng tản cư, xây dựng chiến luỹ để bảo vệ một số nơi tiếp giáp với quân Pháp đóng. Trên sân sau Bắc Bộ Phủ, bộ đội ta đào giao thông hào và đục tường nối liền Nhà Bưu điện, tăng cường các bao cát ở các vọng gác, sau các cửa sổ ở dưới nhà và trên gác. Pháp khiêu khích trắng trợn hơn. Chúng cho quân lính bắn vào chiến luỹ, vào các chiến sĩ Vệ quốc đoàn trong đội canh gác hỗn hợp ở Nhà máy điện Yên Phụ, tàn sát dân chúng ở Hàng Bún và Yên Ninh.

Trung ương Đảng ta, Bác Hồ và Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh đã dự kiến mọi việc có thể xảy ra và đã có kế hoạch chiến đấu với địch. Vệ quốc quân và tự vệ chiến đấu Hà Nội được lệnh giữ bình tĩnh, nín nhịn, không sa vào âm mưu khiêu khích của địch.

Chúng tôi khẩn trương chuẩn bị chiến đấu, củng cố các vị trí bắn ở cổng, cửa ra vào và các cửa sổ Nhà Bưu điện, lợi dụng đêm tối khoét sẵn các lỗ đặt mìn ở gốc cây hai bên đường gần đó, đợi khi có hiệu lệnh nổ súng thì đặt mìn dẻo Nhật vào, quấn một vòng xung quanh, giật nụ xoè phát nổ làm thân cây đổ ngang mặt đường làm vật cản xe tăng và cơ giới địch. Hàng ngày chúng tôi dành ra một giờ để luyện tập chiếm lĩnh các vị trí chiến đấu. Hàng tuần bất chợt anh Đại đội phó Đỗ Đức Liêm (sau này là Thượng tướng Vũ Lăng ( )) lại thổi còi báo động chiến đấu tập, các chiến sĩ lại nhanh chóng về vị trí quy định, nòng súng hướng về nơi có địch theo giả thuyết. Có đêm tôi đang ngủ say trong gian phòng nhỏ ở cuối hành lang trên gác, đặt làm sở chỉ huy trưởng của trung đội, mơ màng nghe như có tiếng còi báo động, chưa mở mắt ra được thì có bàn tay ai đó đang lay mạnh vào vai khiến tôi ngồi bật dậy, thấy anh Vương Thừa Vũ( ) chỉ huy trưởng Khu đặc biệt Hà Nội đã đứng sừng sững ngay cạnh giường. Anh Vũ nói như thét vào tai: Báo động chiến đấu! Dậy! Dậy mau!. Tôi vội buông chăn, đứng nghiêm, mắt nhìn thẳng vào Khu trưởng: Báo cáo Khu trưởng, đơn vị đã sẵn sàng. Anh Vũ ra lệnh: Triển khai chiến đấu!. Tôi vội đưa chiếc còi đeo sẵn ở cổ, thổi liên hồi: Tuýt! Tuýt! Tuýt!. Đồng thời mặc vội quần áo, đội mũ calô, thắt chiếc thắt lưng da to bản có đeo sẵn 2 quả lựu đạn, xỏ chân vào dép, vừa chạy nhào ra cửa phòng vừa thổi còi to hơn. Các chiến sĩ rất nhạy cảm, một phút rưỡi sau có mặt ở các vị trí chiến đấu. Quân khu trưởng kiểm tra bao quát và tỉ mỉ từng hướng bắn của cán bộ, chiến sĩ, chấn chỉnh lại những nơi cần thiết. Lúc này tôi mới để ý thấy phía sau vị thượng cấp đó còn có mặt đông đủ Ban chỉ huy tiểu đoàn và đại đội của chúng tôi. Trước khi ra về, anh ra lệnh tập hợp toàn đơn vị lại để nhận xét, có chỗ khen, có chỗ chê nhưng điều mà tôi nhớ nhất là Còn chậm. Để khắc phục, từ hôm đó trở đi khi đi ngủ tôi mặc luôn cả quần áo, đội mũ và đi dép rồi nằm đắp chăn, chỉ chừa đôi bàn chân, để khi báo động dậy được nhanh. Riêng chiếc thắt lưng da có đeo hai quả lựu đạn và một con dao găm dài thì vẫn phải để sẵn bên gối. Quả nhiên, lần sau tiểu đoàn đến báo động kiểm tra, đơn vị tôi được khen là chấp hành nhanh. Qua nhiều lần tập, lại được động viên, chúng tôi rất phấn khởi, tự tin. Trước sự quan tâm của cấp trên, tôi tìm hiểu và được biết rằng Bắc Bộ Phủ, Bưu điện Bờ Hồ và Toà Thị chính là những mục tiêu quan trọng địch cần đánh chiếm trước tiên khi chúng tấn công Hà Nội.

Sáng ngày 19 tháng 12, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ta đã gửi các mặt trận và các khu bức điện: Giặc Pháp đã hạ tối hậu thư đòi tước vũ khí của quân đội, tự vệ và công an ta. Chính phủ ta đã bác bỏ tối hậu thư ấy. Như vậy chỉ trong 24 giờ là cùng, chắc chắn giặc Pháp sẽ nổ súng. Chỉ thị của Trung ương Đảng: Tất cả hãy sẵn sàng.

Chiều 19 tháng 12 năm 1946, Bộ Tổng Tham mưu gửi điện cho khu 11 Hà Nội: Lệnh nổ súng lúc 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946. Ban Chỉ huy tiểu đoàn triệu tập tôi lên phổ biến lệnh nổ súng toàn thành lúc 20 giờ tối nay bằng tắt đèn và tiếng nổ của đạn đại bác pháo đài Láng. Các anh triển khai ngay kế hoạch chiến đấu.

Tối hôm đó chúng tôi nhanh chóng đi đặt mìn vào các gốc cây để khi có hiệu lệnh thì gây nổ như kế hoạch đã định, làm xong ai nấy về vị trí chờ đợi.

Xem đồng hồ mới có 19 giờ 42 phút, đèn Hà Nội vẫn sáng như thường lệ, tuy nhiên số người qua lại trên mặt đường xung quanh Hồ Gươm giảm hẳn đi so với mọi đêm, hoạ hoằn lắm mới thấy một hai người đạp xe hối hả. Cũng không thấy bóng một tên Pháp nào trên mặt đường. Tôi đứng ở dưới nhà, gần cửa gian phòng giao dịch của Bưu điện vắng bóng các nhân viên, mắt không rời khỏi mặt số của chiếc đồng hồ quả lắc treo chính giữa bức tường ngăn với phía trong. Tôi có cảm giác là chiếc kim phút xê dịch rất chậm so với mọi khi. Ngoài kia gió Bắc thổi nhẹ trên mặt Hồ Gươm, bị hàng cây cản lại tạt vào nơi tôi đang đứng khiến người tôi hơi lành lạnh trong tấm áo trấn thủ mỏng, mảnh áo ấm duy nhất của Vệ quốc quân mặc mùa Đông. Đang chăm chú theo dõi đồng hồ thì nghe tiếng anh Hồng, Thư ký Công đoàn Bưu điện đôn đốc anh em tự vệ thu dọn bàn ghế để quẳng ra đường làm chướng ngại vật.

Kim dài trên mặt đồng hồ Bưu điện chỉ gần sát số 12, hai kim chập lại, chuông đánh 8 tiếng. Vẫn chưa thấy đèn tắt. Lạ quá, hay chiếc đồng hồ này chạy nhanh! Tôi kiên trì theo dõi. Chiếc kim dài tách khỏi kim ngắn, 1 khắc rồi 2 khắc rồi đèn vụt tắt. 4, 5 giây sau nghe tiếng nổ xa, gần. Tôi hô thật to: Các đồng chí! Nổ mìn ngả cây!

Đêm nay là đêm 26 tháng 01 năm Bính Tuất, trăng chỉ mọc vào gần sáng hôm sau. Các vì sao bị mây mù che phủ. Bóng tối bao trùm mọi cảnh vật, chỉ còn thấy lấp lánh mặt Hồ Gươm. Hiện tượng đó chỉ kéo dài dăm ba phút. Bỗng nhiên bầu trời Hà Nội lại bừng sáng lên, từng đợt, từng đợt bởi pháo sáng, đạn vạch đường, ánh chớp của mìn, đạn đại bác và một vài đám cháy. Cùng với những tia chớp là một bản hòa tấu lạ kỳ của tiếng nổ ình oàng, lạch tạch của mìn, pháo, đạn các cỡ, loại, nối tiếp, xen kẽ lẫn nhau, lúc dồn dập, lúc ngắt quãng, tiếng cây và cột điện đổ, tiếng toa tàu điện bị lật nghiêng, tiếng bàn ghế, tủ bị quẳng ra đường. Một số người Hà Nội nói, so với đêm Nhật đảo chính Pháp ngày 09 tháng 3 năm 1945, đêm nay mới thật là chiến tranh. Tôi nghĩ đến giờ phút thiêng liêng của đêm giao thừa đánh dấu một trang mới trong Lịch sử chiến tranh giữ nước của dân tộc Việt Nam ta.

Nhà Bưu điện chưa có điều kiện nổ súng ngay trong đêm đầu, nhưng phía sau lưng không xa, Bắc Bộ Phủ đã phải chống trả lại quân mũ nồi đỏ Pháp từ khách sạn Métropôle và từ Nhà Ngân hàng bắn sang. Trước mặt chúng tôi, sau Tháp Rùa, bên bờ Tây của Hồ Gươm nghe có tiếng xe tăng, trung liên, tiểu liên bắn dồn dập, tiếng lựu đạn nổ, rồi có ánh lửa và tiếng súng trường tí tách suốt đêm. Sáng hôm sau tôi được biết đồn Công an Hàng Trống đã bị xe tăng, thiết giáp quân Pháp từ thành Hà Nội theo đường Cửa Nam, Tràng Thi ra đánh chiếm, một xe tăng Pháp bị chai xăng crếp của quân ta đốt cháy.

Tuy địch chưa đến, song không một ai trong chúng tôi ở Bưu điện chợp mắt được. Tôi cùng anh Hồng lên gác uống nước nói chuyện thâu đêm.

Tôi nhớ trong buổi lễ tuyên thệ nhận danh hiệu Quyết tử quân Thủ đô tổ chức tại hội trường ngôi nhà bên phải Bắc Bộ Phủ nay là Bộ Thương binh - Xã hội, các chiến sĩ đại đội 1 chúng tôi, trước ảnh Bác Hồ và lá cờ Tổ quốc đã nghiêm trang thề: Quyết tâm chiến đấu đến cùng để bảo vệ Thủ đô Hà Nội yêu quý, dù khó khăn, gian khổ đến đâu cũng không sờn lòng, nản chí, thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu làm nô lệ, nhất định không chịu mất nước. Trong buổi lễ hôm đó, Bưu điện Bờ Hồ đã cử chị Huyền thay mặt cho Hội Phụ nữ và công nhân, viên chức đến động viên và tặng hoa cho Chiến sĩ quyết tử.

Từ sáng ngày 20 tháng 12, ba chiếc xe tăng và thiết giáp Pháp theo đường Tràng Thi, Hàng Khay, Tràng Tiền đến ngã tư gần chỗ mấy cô hàng hoa mọi khi thì một xe tăng dừng lại, máy vẫn nổ, hướng nòng pháo Bôpho và trọng liên nhả đạn như điên vào Nhà Bưu điện. Hồi đó ta chưa xây toà nhà Bưu điện mới nhiều tầng như hôm nay, mà chỉ có nền xi măng và một dãy tường thấp nên luồng đạn địch không bị cản đã chạm vào tường và mặt trước ngôi nhà chúng tôi đang chiếm lĩnh. Vì cơ số đạn có hạn và cấp trên đã có lệnh tiết kiệm nên chúng tôi không bắn trả vào xe tăng địch mà tận dụng các bao cát tránh đạn, chỉ thỉnh thoảng nhô lên quan sát giữa hai đợt bắn, chờ bộ binh địch xuất hiện. Lúc này đây tôi mới thấy tác dụng thực tế của những vật chướng ngại trên mặt đường và bãi mìn giả bằng nồi đất úp do tự vệ Bưu điện lập nên từ đêm hôm qua. Xe tăng địch vẫn quay cuồng tại chỗ, gầm rú, xả đạn uy hiếp. Mãi về sau bộ binh địch mới xuất hiện. Từng tốp, từng tốp cúi lom khom, men theo chân hàng rào phía trước, vừa tiến, vừa bắn, còn hỏa lực xe tăng chỉ điểm xạ lên cao. Các chiến sĩ ta lúc này mới nổ súng đồng loạt vào đội hình bộ binh địch, có viên đạn xuyên táo liền hai tên. Đội hình địch chùn lại. Tên chỉ huy ở phía sau vừa nhô hẳn người lên, vung súng lục bắn chỉ thiên, miệng hô: Dépéchez vous! En avant (Tiến nhanh lên) thì chiến sĩ Hải, sau bao cát bên cửa sổ đầu cầu thang gác 2 đã bóp cò chính xác. Tên chỉ huy địch chới với, buông rơi khẩu súng côn đui (Colt - 12) ngã ngửa về phía sau. Lính địch rút chạy cuống quýt, về núp sau xe tăng, những tên chết và bị thương nặng nằm ngổn ngang trên hè đường Đinh Tiên Hoàng. Pháo đạn từ xe tăng lại bắn dồn dập về phía ta yểm hộ cho quân chúng đến kéo những tên chết và bị thương đi.

Sau đợt tấn công đầu, tiếng súng tạm yên một lúc ở Nhà Bưu điện. Xa xa phía Nhà hát lớn có tiếng súng. Còn Bắc Bộ Phủ thì pháo đạn nổ giòn giã nhất. Tôi nghe rất rõ tiếng đại bác và tiếng súng máy của xe tăng, tiếng động cơ gầm rú từ phía trước Nhà Ngân hàng và Vườn hoa con cóc phun nước, tiếng tiểu liên Tom-son (Thompson) bắn từng nhịp từ khách sạn Mêtropôle sang. Địch đang tập trung đánh mạnh vào trụ sở cơ quan đầu não của Nhà nước ta, ở đó từ mấy hôm nay rồi chỉ còn lại Ban Chỉ huy Đại đội một với hai trung đội Vệ quốc quân. Sau này tôi được nghe tường thuật lại, các anh đã chiến đấu rất dũng cảm với tinh thần của những Quyết tử quân Thủ đô. Trong nhiều đợt xung phong của bộ binh dưới sự yểm trợ của hỏa lực xe tăng, thiết giáp, địch vẫn không đè bẹp được sức đề kháng của quân ta. Một vài đoạn hàng rào thép bị xe tăng của địch húc đổ thì chiếc xe tăng đó bị bom ba càng bắn cháy ngay. Các lỗ hổng bị lưới lửa của trung, tiểu liên ta bịt lại.

Hơn một trăm xác lính mũ nồi đỏ, mũ nồi đen nằm rải rác ở trước và bên trong hàng rào, có những tên chết nằm vắt trên những cọc thép nhọn. Chiều tối hôm đó chính trị viên đại đội Lê Gia Định cho bộ đội Bắc Bộ Phủ rút sang Nhà Bưu điện, còn anh ở lại đợi khi địch ồ ạt lọt vào trong thì giật quả bom hơn 20 kg nhằm tiêu diệt chúng đồng thời phá huỷ toà lâu đài này. Quả bom không nổ và Lê Gia Định đã hy sinh.

Tại hướng Nhà Bưu điện từ sáng tới chiều địch tổ chức tới ba đợt tiến công, kết hợp giữa hoả lực với bộ binh nhưng đều bị thất bại. Về phía ta, phần vì quân số ít, lại luôn luôn cơ động vị trí bắn, phần vì tường nhà rất dầy, nhất là ở các góc, xe tăng địch lại ở xa bắn tới, không dám vượt qua các vật cản và bãi “mìn” dày đặc nên sau ngày chiến đấu thứ nhất chưa có ai bị thương vong. Tối hôm đó, ăn cơm xong, chúng tôi cùng nhau rút kinh nghiệm trận đánh trong ngày, biểu dương đồng chí Hải mà anh em tôn là thiện xạ và ghi công các đồng chí đã diệt được nhiều địch như Luân tiểu đội trưởng, Ngọc tiểu đội phó, Khoái, người chiến sĩ có biệt danh là “Khoái Nhật(1)”, vóc dáng thấp, chắc nịch, thường thắt dây lưng da đeo bao đạn và lựu đạn trễ dưới rốn, mặc quần soóc, đội mũ lệch giống như lính Nhật. Tôi cũng nhiệt liệt ngợi khen các chiến sĩ tự vệ “công binh” đã cùng ngả cây và rải “mìn” dày đặc khiến xe tăng, thiết giáp địch không dám tiếp cận. Lúc này các cán bộ, chiến sĩ còn lại bên Bắc Bộ Phủ đã sang tới Nhà Bưu điện. Tôi rất mừng vì có thêm lực lượng chiến đấu trong những ngày tiếp sau.

Sáng ngày 21, quân Pháp hình như qua mấy trận đọ sức đã thăm dò được lực lượng của ta. Chúng lại được rảnh tay về hướng Bắc Bộ Phủ và Nhà hát lớn Hà Nội nên tổ chức tấn công Nhà Bưu điện với quy mô lớn hơn. Được tăng cường hoả lực xe tăng, thiết giáp địch tổ chức tấn công ta từ hai hướng Ngã tư Tràng Tiền, Hàng Bài và Nhà Ngân hàng, trong đó hướng chính là từ Ngã tư vào sườn bên trái và mặt trước Nhà Bưu điện, hướng phụ là từ nhà Ngân hàng tới sườn bên phải.

Từ sớm, chúng tôi cùng nhau nhắc lại lời thề Quyết tử quân, bắn chính xác, tiết kiệm đạn, xử trí nhanh với đối tượng xung lực địch là chủ yếu, cơ động vào thời gian thích hợp giữa các vị trí chiến đấu để giảm thiệt hại, dồn quân từ dưới nhà lên gác. Dưới nhà chỉ để một bộ phận nhỏ dùng tiểu liên quét địch đến gần. Trên gác có tầm nhìn xa và độ cao thuận tiện cho việc bắn tỉa địch vào những lúc lính xe tăng mở nắp nhô người lên, lúc bộ binh địch chưa áp sát. Tôi cho tập trung lựu đạn ở trên để ném vào đội hình địch tiếp cận, co cụm đông.

Hai đợt xung phong của địch buổi sáng đều thất bại. Đến chiều chúng tập trung hỏa lực pháo, trọng liên, trung liên khống chế các cửa sổ trên gác, còn bộ binh thì tốp trước ngã, tốp sau tiến lên xung phong ồ ạt. Trên gác và trước mặt, bên sườn Nhà Bưu điện, cát, bụi, khói đạn mịt mù, có những viên đạn qua cửa sổ lọt vào trong nhà không xuyên được thủng tường còn xoáy tít tại chỗ rồi dẹt lại như những đồng xu tròn rơi ngay dưới chân tường.

Bỗng giữa những tiếng nổ của pháo đạn, tiếng gạch vữa và mảnh vỡ của cửa sổ rơi rào rào, có tiếng gọi ngắt quãng của chiến sĩ Hải từ đầu cầu thang gác tới:

Anh Quận ơi!... tôi... bị... thương rồi!

Tôi lom khom chạy tới thấy anh đang nằm sõng soài dưới cửa sổ đã bị trái phá địch bắn tan, máu chảy qua áo ở ngực, lênh láng ra sàn nhà. Chúng tôi vội mang anh đến chỗ an toàn trong phòng tổng đài, băng vết thương cho cầm máu. Tối hôm đó anh Dậu trung đội phó ở Bắc Bộ Phủ sang, đã cõng anh về Liên khu 1.

Lúc này đạn địch vẫn bắn vào các cửa sổ và mặt tường ngoài Nhà Bưu điện hình như cao dần lên vì thấy ngói vỡ lộp bộp. Tôi nghe rất rõ tiếng hô!

àlassaut (Xung phong).

Qua lỗ châu mai ở cửa sổ, tôi nhìn thấy một tốp khá đông lính mũ nồi đỏ, có những tên mặt cũng đỏ như ruột dưa hấu, từ hai hướng phía đường Đinh Tiên Hoàng và bờ hồ trước mặt đang lom khom tiến sát. Tôi vội hô to: Lựu đạn đồng thời rút quả “O.F” đeo ở thắt lưng da, tháo chốt an toàn, đợi một, hai giây rồi ném vào giữa đội hình địch. Cùng lúc ấy hàng loạt lựu đạn nổ vang. Lựu đạn sát thương của quân ta từ trên cao ném xuống đã phát huy tác dụng tuyệt vời. Quân Pháp đứa chết, đứa bị thương nằm la liệt. Những tên sống sót quay lưng chạy ngược lại men theo bờ hồ dưới sự yểm hộ của hỏa lực xe tăng địch. Tiểu liên ta bắn từng nhịp ngắn tiêu diệt những tên còn sống sót. Sau lưng tôi, nghe có tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm!”.

Theo hướng sườn bên phải, đạn địch từ nhà Ngân hàng và từ xe tăng đậu ở đầu Vườn hoa Con Cóc vẫn bắn từng đợt vào các cửa sổ Bưu điện và Toà Thị chính và kiểm soát vườn hoa Chí Linh. Em thiếu niên làm liên lạc giữa Bưu điện và Toà Thị chính, sau nhiều lần chạy qua lại như con thoi, lúc này đang nằm sấp, tay và chân dang rộng như ôm lấy thảm cỏ xanh của vườn hoa. Em “Kim Đồng” đó đã trúng đạn trong chuyến liên lạc cuối cùng ngày hôm ấy, trên đầu đội chiếc mũ len mầu. Hôm nay tôi không còn nhớ tên em, nhưng chắc chắn người nữ hiệu thính viên Bưu điện có đôi mắt sáng, nước da trắng hồng, đã gửi tôi chiếc mũ len đó nhờ trao cho em, còn nhớ rõ. Thương em quá, tôi muốn khóc oà lên mà không thành tiếng.

Tối ngày 21 mặc dù địch vẫn chưa chiếm được Nhà Bưu điện, song chúng tôi nhận được lệnh chuyển quân về Toà án Hàng Tre lập phòng tuyến mới của Liên khu 1 - Khu cố thủ của Thủ đô, bên đường Trần Nhật Duật trên hữu ngạn sông Hồng.

Trước khi đi, chúng tôi đập phá toàn bộ tổng đài thông tin, máy móc, cắt dây bên trong nhà. Tay cầm những chiếc máy Siemen xinh đẹp, còn khá mới ném mạnh xuống mặt đường mà lòng đau như dao cắt, nghĩ rằng sau này còn có đủ phương tiện thông tin để duy trì liên lạc chiến đấu không? Cuối cùng, khi tất cả quân số, trang bị vũ khí, thương binh và một số lương thực đã sang tới bờ hồ, tôi ra lệnh cho người chiến sĩ đi sau cùng rút nụ xoè phát nổ quả bộc phá to đặt trong cống ở cửa ra vào Nhà Bưu điện, cắt đứt toàn bộ những dây cáp ngầm dưới lòng đất. Một tiếng nổ, tiếp theo là một cột khói và cát bụi cuồn cuộn bốc lên cao sau lưng chúng tôi.

Đêm chúng tôi tạm biệt Nhà Bưu điện Bờ Hồ thân yêu là đêm 28 tháng một âm lịch, trời tối đen như mực. ánh sáng mờ nhạt của các vì sao cùng với hoả châu địch bắn lên soi đường quân ta đi. Chúng tôi lần lượt qua đầu cầu Thê Húc đến bến xe điện, luồn lách qua những toa tầu bị lật nghiêng và những cây đổ, những bàn tủ ngổn ngang, tới phố Hàng Thùng đi một đoạn ra đường Trần Nhật Duật đến chiếm lĩnh trận địa chiến đấu mới. Sáu ngày sau, trong một trận đọ súng quyết liệt với xe tăng và bộ binh địch tại đây tôi bị thương vào cổ, bên trái phía dưới hàm, máu chảy ướt đẫm ba lớp áo mỏng bên trong và áo trấn thủ mặc ngoài. Anh Ngọc thay tôi tiếp tục chỉ huy chiến đấu. Trước lúc tôi bị thương nửa giờ, tiểu đội trưởng Luân bị một viên đạn “Mass” bắn trúng mồm, xuyên ra sau gáy đã hy sinh. Chiến sĩ Thuật, người cân đối, mắt bên trái có một cái ve cõng tôi chạy một mạch đến trạm phẫu thuật tiền phương của Liên khu 1 đặt tại kho hàng hiệu Quảng Xương Long, phố Hàng Buồm. Tại đây, những người tiếp nhận và sơ cứu cho tôi lại là mấy chị em cô hiệu thính viên Nhà Bưu điện Bờ Hồ không biết đã học cứu thương từ khi nào!

Sau khi rửa sạch máu, bụi cát, thuốc súng bám trên cổ và mặt tôi, các chị đồng thanh reo lên “A! Anh Quận!”. Tôi nhận ngay ra tiếng Nhung (Nguyễn Thị Nhung, nguyên hiệu thính viên Bưu điện Bờ Hồ, Hà Nội, sau là bác sĩ viện quân y 108, nay đã về hưu, nhà ở 108 K8 Khu tập thể Thành Công, Hà Nội.), cô hiệu thính viên tháng trước đây đã đến phòng làm việc của tôi, gửi chiếc mũ len tặng em liên lạc. Tôi vẫn còn nhớ lúc vội quay ra, một chân cô vấp vào bậc cửa, người lạng đi suýt ngã, chiếc guốc nhỏ tuột ra.

Có lẽ vì căn phòng chứa thương binh đã chật cứng người hay vì là “người nhà” nên tôi được ưu tiên nằm trên gác, nơi bác sĩ Thuyết, trạm trưởng và các y sinh, hộ lý ở. Sau khoảng dưới hai tuần được săn sóc, chữa chạy chu đáo, mảnh đạn được gắp ra, vết thương hàn khẩu, tôi trở về nhận nhiệm vụ mới: Đại đội trưởng đại đội 13, thuộc khu Đông Kinh Nghĩa Thục, Liên khu 1, nay Tiểu đoàn 3, trung đoàn Thủ đô do các anh Hà Tấn Công làm tiểu đoàn trưởng, Đỗ Đức Liêm (Vũ Lăng) làm tiểu đoàn phó, Nguyễn Văn Trừng làm chính trị viên, Lê Thản chính trị viên phó.

Vào khoảng trung tuần tháng Giêng năm 1947, Chính phủ ta thống nhất với các lãnh sự Trung Hoa, Anh và Mỹ thoả thuận cùng phía Pháp một thời gian ngừng bắn 24 giờ, đưa Hoa kiều, ấn kiều và thường dân ra khỏi khu vực chiến sự, trong đó có tất cả các thương, bệnh binh với cứu thương hộ tống.

Đi bên cạnh Nhung, tôi tiễn đưa nhân dân và các bạn chiến đấu một đoạn đường phố Hàng Buồm. Những người ra đi hình như đều có chung một tâm trạng là không một ai muốn xa rời Thủ đô thân yêu đang chiến đấu, chân bước đi mặt còn ngoảnh lại:

Sau 60 ngày đêm chiến đấu ác liệt trong lòng Hà Nội, mãi tới đêm 17 tháng 02 năm 1947, Trung đoàn Thủ đô mới được lệnh rút ra ngoài để 8 năm sau, ngày 10 tháng 10 năm 1954 lại trở về tiếp quản Thủ đô Hà Nội trong đội hình sư đoàn 308 Quân Tiên phong, dưới lá cờ quyết chiến, quyết thắng của Hồ Chủ Tịch vừa mới cắm ở Điện Biên Phủ.

Trong hàng ngũ những người chiến thắng trở về có mặt các cán bộ nhân viên Bưu điện Bờ Hồ, một số không ít đã trở thành Chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.
30 - 4 - 2000
Chú thích:
(1) Bài có sử dụng một số tư liệu chính trị từ “Những chặng đường lịch sử” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Nhà xuất bản Quốc gia, năm 1994.