Sông nước gợn buồn

 •  14:07 thứ năm ngày 12/08/2004
Trần ThôiNghe tiếng gọi của chị Mỹ, một bà cụ dáng còm cõi lần tấm vách ván bước lên nhà trên. Tay cụ run run lần từng bước khó nhọc. Chị Mỹ lật đật chạy lại nắm tay đỡ bà cụ ngồi xuống giường. Vừa ngồi xuống bà bắt đầu ho và thở một cách khó nhọc. Trong giữa cơn ho bà hỏi chị Mỹ:

- Sao lâu quá không thấy bay lại chơi? Bây khỏe hôn?

Chị Mỹ trả lời bằng một câu hỏi:

- Thím nấu gì mà khói mù mịt dưới bếp vậy?

- Tao hâm nồi cháo. Hổm rày bệnh, ăn cháo không hà.

Chị Mỹ lật đật bước xuống bếp thổi lửa. Chị thốt lên:

- Củi ướt nhẹp thím Tám ơi. Hèn chi khói quá trời.

Chị Mỹ khom lưng thổi phù phù

Nhìn căn nhà quạnh quẽ, tôi hỏi bà Tám:

- Bác ở đây có một mình sao bác?

Bà Tám vừa thở hổn hển vừa trả lời:

- Có đứa cháu kêu bác bằng dì, nó ở kế bên đây. Hôm nay nó đi ruộng.

- Còn con bác ở xa hả bác?

Nghe tôi hỏi, chị Mỹ trả lời:

- Thím Tám không có con anh ơi. Từ ngày chú mất, thím ở vậy tới giờ.

Thấy bà Tám không được khoẻ nên tôi hơi ngại, không dám hỏi gì thêm. Chị Mỹ nói:

- Thím Tám nằm nghỉ cho khoẻ, để cháu làm cho thím ly nước chanh nghe?

Bà lắc đầu:

- Bị cảm sơ thôi. Nhà suốt ngày vắng tanh, mấy cháu tới là vui lắm. Bây giờ thấy khoẻ rồi.

Trên đường chúng tôi đến đây, chị Mỹ - Phó ban Kiểm tra Đảng huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp có giới thiệu vài nét về quá trình công tác của vợ chồng bà Phùng Thị Tám mà anh chị em ngành Giao Bưu vận tỉnh Vĩnh Long quen gọi thân mật là vợ chồng ông Chín Mập, vì ông Chín dáng người cao to, mập mạp. Chị Mỹ cho biết bà Tám đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

Do vậy mà tôi nhìn bà Tám một cách tò mò, cố tìm ra một nét gì đó thật sự đặc biệt được ẩn chứa bên trong cơ thể hom hem gầy úa của bà. Nhưng không. Ngoài giọng nói nhân từ, ánh mắt phúc hậu, tôi không tìm được nét gì đặc biệt khác ở bà.

Hồi nãy tôi có hỏi: Con bác ở xa hả bác?. Không ngờ câu hỏi đó đã vô tình chạm vào nỗi niềm sâu kín của bà, khiến hai mắt bà đỏ hoe. Bà kể:

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, đến giữa năm 1955 tổ chức giao liên bán công khai của tỉnh Vĩnh Long mới được hình thành trở lại, do ông Hai Ngự được Tỉnh ủy chỉ định phụ trách Trưởng ban. Chiến sĩ giao liên bên dưới chỉ có bốn người. Đó là vợ chồng ông Tư Nhất và vợ chồng ông Chín Mập. Chín Mập là tên thường gọi của đồng chí Trương Văn Minh và vợ ông là bà Phùng Thị Tám đang ngồi đối diện với chúng tôi đây.

Phương tiện hoạt động của Ban giao liên bán công khai bấy giờ chỉ có hai chiếc ghe, trọng tải mỗi chiếc khoảng 4 tấn. Tỉnh ủy giao cho vợ chồng ông Tư Nhất quản lý một chiếc và vợ chồng ông Chín Mập một chiếc, để vận chuyển tài liệu từ Khu ủy Khu 9 (bấy giờ đóng tại Cà Mau) về Vĩnh Long và ngược lại. Hành trình 10 ngày một chuyến. Tức hai ghe thay nhau, mười ngày đi, mười ngày nghỉ.

Bấy giờ do điều kiện khó khăn và do phải đóng vai người nghèo đi mua bán đồ hàng bông, nên lãnh đạo Ban giao liên chủ trương không mua máy nổ. Cho nên suốt từ năm 1955 đến năm 1962, trong bảy năm dài vợ chồng ông Tư Nhất và ông bà Chín Mập cứ chèo chống ròng rã, dọc ngang trên mọi miền sông nước, đã vận chuyển và đảm bảo an toàn cho hàng tấn tài liệu mật của Đảng, đường dây giao liên bán công khai từ Khu ủy về Vĩnh Long không hề bị gián đoạn hành trình.

Buổi tối hôm ấy, bà Chín (gọi theo thứ của ông Chín) còn nhớ chính xác vào ngày mùng 10 tháng 9 năm 1960, ông Chín chui ra từ trong rặng bần sầm uất, trèo lên nghe, giục bà Chín:

- Mình ơi, dậy mau! Có tài liệu khẩn cần chuyển gấp!

Đêm đó Khu ủy đã gởi khẩn cấp về Vĩnh Long một số tài liệu mật và 8 khẩu súng oảnh tầm sào, yêu cầu ông bà Chín phải chuyển hết sức khẩn trương, không được chậm trễ. Bà Chín đoán hình như Tỉnh ủy Vĩnh Long đang chuẩn bị một trận đánh lớn. Biết việc mình làm có quan hệ đến đại sự, nếu chậm trễ sẽ hỏng việc lớn của Đảng! Mặc dù đang mang thai đến tháng thứ ba, bất chấp lời cản ngăn của ông Chín, bà Chín cầm chèo mũi tiếp sức với ông. Nhiều đoạn phải chèo nước ngược, bà Chín ráng quá sức, về tới Vĩnh Long bà bị băng huyết hư thai. Số tài liệu và vũ khí kịp về trước một ngày khi cuộc Đồng khởi vào đêm 14 tháng 9 long trời lở đất nổ ra khắp nơi ở Vĩnh Long.

Sau Đồng khởi, vào khoảng cuối tháng 8 năm 1961, trong chuyến vận chuyển tài liệu từ Khu ủy về Vĩnh Long trên con sông Hậu mênh mông, một đợt sóng to đã bất thần nhấn chìm chiếc ghe của ông bà Chín. Con sóng quá mạnh hất bà Chín văng ra khỏi ghe. Trong cơn hốt hoảng bà may mắn quơ được tấm ván lót ghe. Một tay cặp nách tấm ván, một tay bà cố bường vào tới bờ. Bà hớt hơ hớt hải chạy dọc theo xóm nhà ven sông kêu cứu: Bớ cô bác ơi, cứu chồng tôi!.

Nghe tiếng kêu thất thanh giữa đêm khuya mọi người đốt đuốc chạy ra. Tất cả đều thất kinh hồn vía khi thấy một người đàn bà không mặc quần, tóc xõa rối bời, áo rách tả tơi cứ chạy như điên và kêu cứu một cách hoảng loạn. Cánh đàn ông lập tức phóng xuồng ra sông tìm người bị nạn, cánh đàn bà dìu bà Chín vào trong thay quần áo. Bấy giờ bà mới kịp nhận ra là không mặc quần và cả hanh sườn bên phải bầm đen như sắn chín vì cọ xát vào tấm ván lót ghe lúc bà cặp nách lội vào bờ.

Ông Chín vẫn níu sát chiếc ghe bị lật úp trôi lềnh đềnh. Cánh đàn ông đi cứu nạn vừa kịp đến lúc ông đã đuối sức.

Cuộc đời người chiến sĩ giao liên của vợ chồng ông bà Chín gắn bó với chiếc ghe chèo kẽo kẹt, với sông nước mênh mông. Nhiều lúc neo ghe cặp rặng bần chờ con nước xuôi, nhìn ông Chín nằm chèo queo vì đường dài mệt mỏi, bà Chín chợt thèm khát đến da diết tiếng cười của trẻ nhỏ. Thấy bà Chín cứ buồn rười rượi vì những sự cố vừa qua, ông tìm lời an ủi: Thôi bà đừng buồn nữa. Nếu đứa nhỏ có ra đời nó cũng không thoát khỏi trận xuồng vừa rồi đâu. Bà phải ráng giữ sức để còn lo chuyện công tác.

Bà Chín vừa nói vừa mếu: Thiếu chút nữa tôi với ông thành thằng trổng chết trôi, có ai biết mình là chiến sĩ giao liên đâu!.

Ông Chín chậc lưỡi: Cần gì ai biết. Mình đi làm Cách mạng chứ có phải đi kiếm danh đâu mà sợ người ta không biết.

Bà Chín lặng thinh. Thỉnh thoảng ông Chín có những câu nói như thế, làm bà rất nể...”

Hình như được nói về ông Chín thì bà Chín lại càng khỏe ra. Bà không còn ho và thở hổn hển nữa. Bà kể tiếp:

“Nhớ lại hồi năm 1958, Ban lãnh đạo giao liên vận động anh em trong ngành hãy suy nghĩ và đưa ra những sáng kiến về cách thức nghi trang, cất giấu tài liệu để qua mắt địch. Những sáng kiến đó sẽ được mọi người thảo luận góp ý. Lần đó ông Chín là người đưa ra nhiều sáng kiến rất hay được mọi người chấp nhận. Ông trực tiếp làm để biểu diễn cho mọi người ngó thấy những cách thức nghi trang cất dấu tài liệu của ông rất bất ngờ và lắt léo. Ông giấu một bó tài liệu trong guốc chèo, trong cán dằm, trong khoang xuồng, trong trái dừa khô, khóm, mít... cách ông moi lỗ bên trong và nghi trang bên ngoài rất khéo, dù ta có để ý trước, cầm lên, lật qua lật lại cũng khó mà tìm ra điểm sơ hở. Ông được Ban lãnh đạo giao liên hết sức khen ngợi và tin tưởng về khả năng này.

Có lần ông nói với bà Chín:

- Việc cất giấu tài liệu là vấn đề sinh mạng. Ngoài một số cách thông thường cần đưa ra để phổ biến, còn lại mỗi người phải có một bí quyết riêng không thể nói với ai được.

Về sau bà Chín cũng biết được một vài bí quyết của ông. Như ông đóng một cái hộp nhỏ ở giữa ghe nhưng ở bên ngoài. Mỗi lần cất giấu thì phải bỏ tài liệu vào bọc ni-lông quấn lại cho thật kỹ để nước không ngấm vào. Sau đó phải lặn xuống nước, dưới lường ghe để nhét tài liệu vào công sự, chừng lấy ra cũng phải lặn xuống mà lấy. Cách này có hơi bất tiện ở chỗ phải lặn xuống nước, ướt mình, nhưng được cái khá an toàn vì địch ít nghi ngờ tới.

Nổi tiếng là người có những thủ thuật lắt léo, ấy vậy mà có lần ông bà Chín thoát nạn là hoàn toàn nhờ may mắn.

Hôm đó vào ngày 28 tháng 10 năm 1967, ông và bà Chín chở ba tấn súng đạn từ Cămpuchia về Vĩnh Long trên một chiếc ghe trọng tải 12 tấn. Số vũ khí này nhằm chuẩn bị cho chiến dịch Mậu Thân 1968. Bên trên ông Chín nghi trang bằng các thứ trái cây như chuối, mít... Đến đầu cồn Bình Thạnh một chiếc tàu sắt Mỹ nổ súng kêu ghé lại.

Ghe vừa cặp mạn tàu bốn tên lính ngụy lập tức nhảy qua còng tay cả hai ông bà, rồi không nói không rằng, bọn chúng giải hai người về thị xã Sa Đéc. Ngồi trong phòng điều tra, ông bà Chín đinh ninh rằng bọn lính đang tốc các thứ trái cây và moi 3 tấn súng đạn lên rồi. Thôi con đường cách mạng của ông bà đến đây coi như kết thúc!.

Không ngờ tụi điều tra hỏi lòng vòng một hồi thì mở còng bảo ông bà Chín: Đi đi.

Ông Chín ngỡ ngàng hỏi: Đi đâu?

Đến lượt tên sĩ quan an ninh điều tra ngạc nhiên thốt lên:

- Trời ơi! Ông già này kỳ thiệt! Người ta trả tự do cho ông mà còn hỏi đi đâu. Muốn tôi bắt lại không?.

Qua phút ngỡ ngàng ông Chín mừng quýnh, đi như chạy ra đường. Bà Chín giục: Chạy riết xuống coi ghe mình có sao không ông.

Ông Chín trấn tĩnh: Đi từ từ thôi. Chạy hớt hơ hớt hải khiến tụi nó nghi nó bắt lại bây giờ. Tại mình có tịch nên rụt rich chớ chưa chắc tụi nó biết gì.”

Tới nơi thấy ghe còn nguyên vẹn, hai ông bà nhìn nhau thở phào, và thắc mắc không hiểu vì sao tụi lính lại đường đột bắt mình rồi lại đường đột thả ra như vậy. Chắc tụi chiêu hồi nhìn lộn mặt. Ông Chín đoán.

Cuối năm 1967, các đồng chí trong Ban lãnh đạo Giao Bưu vận Khu 9 đến gặp đồng chí Nguyễn Ký ức để xin rút vợ chồng ông Chín Mập về Khu. Bấy giờ đồng chí Nguyễn Ký ức là Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long, trực tiếp chỉ đạo ngành Giao Bưu vận. Các đồng chí có nhận xét rằng: Công việc vận chuyển vũ khí của vợ chồng ông Chín hiệu quả tính ra còn hơn một tiểu đoàn bộ đội đi mang vũ khí từ Cămpuchia về bằng đường giao liên du kích. Về thời gian thì nhanh hơn gấp nhiều lần. Do vậy, nếu ông bà Chín về Khu thì từ nay ông bà không chỉ phục vụ cho chiến trường Vĩnh Long mà còn thêm cả Trà Vinh, Bến Tre và các đơn vị chủ lực của khu hoạt động trên địa bàn này. Thế là đồng chí Nguyễn Ký ức vui vẻ đồng ý để vợ chồng ông Chín về phục vụ cho đơn vị Giao Bưu vận Khu 9.

Về Khu 9, ông bà Chín được giao một chiếc ghe hai đáy, trọng tải trên 10 tấn, đóng rất khéo và gắn máy PS9. Cùng với chiếc ghe này, ông bà Chín đã lập được nhiều thành tích xuất sắc, đã vận chuyển hàng chục tấn vũ khí từ Cămpuchia về chiến trường miền Tây đảm bảo bí mật, an toàn.

Vào đêm 26 tháng 11 năm 1969, sau khi chuyển ba tấn vũ khí từ Cămpuchia về đỗ tại Vàm Bến Cát thuộc xã An Phú Tân, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, ông bà Chín liền quay trở lại đậu ghe nghỉ tại chợ Cái Răng (Cần Thơ) để sáng mai ngược lên Cămpuchia tiếp tục chở về ba tấn vũ khí cho chiến trường Vĩnh Long. Đêm đó, ông bà Chín bị tụi chiêu hồi nhìn mặt, dẫn quân ập xuống ghe bắt giải về ty Công an tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ).

Cùng lúc đó chị Phạm Thị Mỹ và chị Nguyễn Thị Qui (Ba Qui) bị bắt trên một chiếc ghe khác cũng đang trên đường vận chuyển vũ khí với ông bà Chín.

Bọn lính kéo hai chiếc ghe lên bến Ninh Kiều rồi dùng búa bổ ra để khảo sát loại ghe hai đáy của Việt Cộng.

Bị bắt cùng một lúc bốn người: Ông Chín, bà Chín, chị Mỹ và chị Qui, tuy nhiên tụi công an ngụy chỉ tập trung khai thác ông Chín. Chúng tra tấn ông đủ các ngón nghề, nhiều lần ông chết đi sống lại nhưng ông không hề hé môi khai báo nửa lời. Trước sau ông chỉ nói một câu: Tôi làm cộng sản nay sa cơ thất thế rơi vào tay các ông, giết hay tha tùy. Đừng hy vọng gì ở tôi dù chỉ nửa lời khai.

Chị Phạm Thị Mỹ kể lại như sau:

- Dù bị bắt đến bốn người nhưng tụi công an chỉ tập trung khai thác tra tấn mình chú Chín, vì bọn chúng biết rõ vai trò của chú đối với hai chiếc ghe hai đáy bị phát hiện.

Cho đến một hôm, khoảng bảy tám ngày sau khi bị bắt, một lần chị Mỹ xin đi ra cầu vệ sinh. Nửa đường chị thấy một người đàn ông cao lớn, hay tay cong phía trước, mặt mày sưng húp, khắp thân thể chỗ nào cũng tím bầm. Người đó tựa vào tường thở một cách khó nhọc.

Khi đi ngang qua chị Mỹ bỗng nghe tiếng kêu rất khẽ:

- Mỹ đó hả cháu!

Chị Mỹ quay lại và bật khóc:

- Trời ơi!... Chú Chín!... Tụi nó đánh chú đến nông nỗi này!

Chị Mỹ tức nghẹn không nói nên lời. Gương mặt chú Chín thay đổi đến mức nếu chú không gọi chị không thể nhìn ra. Nó bầm dập và sưng vù lên trông thật khủng khiếp.

- Đừng khóc cháu! Ông Chín thở một cách khó nhọc và nói với chị Mỹ: “Cháu phải bình tĩnh và cố giữ gìn phẩm cách người cộng sản dù có phải bị tra tấn đến đâu. Cháu với thím Chín, Ba Qui cứ khai việc vận chuyển vũ khí là do chú đảm trách, còn lại không ai biết gì hết.”

Ông Chín dừng lại để thở rồi nói tiếp: “Cháu đừng lo cho chú. Tụi nó không làm gì được chú đâu. Chú đã có cách của chú rồi.”

Chị Mỹ không ngờ đây là lần gặp gỡ cuối cùng!

Ba ngày sau, trong lúc đem cơm cho chị Mỹ, người lính gác hỏi:

- Cái ông già bị bắt chung với chị có phải là ba chị không?

- Dạ, là chú của tôi, có chi không anh?

- Ông già ghê gớm thiệt. ổng khai ra bến đỗ vũ khí của Việt Cộng. Mấy ông lớn tập trung mười mấy chiếc tàu sắt, lính tráng rầm rầp kéo theo ổng chạy về miệt Trà Ôn. Đi được nửa đường ông nói mắc tiểu. Một người lính dẫn ông ra phía sau lái, hai tay ổng vẫn bị còng phía sau. Thình lình ổng co chân đạp người lính té ngửa rồi nhảy ùm xuống sông. Mười mấy chiếc tàu cứ quần đảo trên mặt sông hơn một tiếng đồng hồ nhưng không thấy ông nổi lên. Ông Trưởng ty công an ngước cổ kêu trời. Cuối cùng đoàn tàu sắt phải quay về tay không. Mấy ông quan lớn tức muốn ói máu.

Từ hôm chị Mỹ nghe người lính đưa cơm kể lại như vậy sau đó không ai còn gặp lại chú Chín nữa.

Chị Mỹ, bà Chín và chị Ba Qui bị đày lên Chí Hoà và nhiều nhà tù khổ sai khác. Đến năm 1973 cả 3 người được trao trả theo tinh thần Hiệp định Pari trên bờ sông Thạch Hãn.

Hiện nay bà Chín ngụ tại ấp Nhân Lương, xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Bà đã được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang vì đã lập nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bà cùng với chồng vận chuyển trên 60 tấn vũ khí các loại từ Cămpuchia và Cà Mau về chiến trường Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre và Cần Thơ. Thế nhưng hiện nay ông Chín vẫn được xem như một trường hợp mất tích. Sau giải phóng việc làm thủ tục để xác nhận ông là liệt sĩ đã gặp nhiều trở ngại, rắc rối. Vì không một ai biết rõ ràng, đích xác cái chết của ông như thế nào?.

Từ hôm cùng chị Phạm Thị Mỹ đến nhà bà Chín, trở về bụng dạ tôi cứ bứt rứt không yên.

Thế rồi, tình cờ trong một bữa tiệc tôi ngồi cùng bàn với anh Ba Quận. Nhà anh ở gần cầu Phạm Thái Bường, thuộc khóm 1, phường 4, thị xã Vĩnh Long. Nghe nói anh là người trước đây hay la cà nhậu nhẹt với các tay sĩ quan lớn của chế độ cũ. Tôi bèn hỏi thăm vào khoảng thời gian 1969, 1970 anh có quen biết ai làm việc ở Ty Công an tỉnh Cần Thơ hay không. Tôi rất mừng khi nghe anh nói có một người bạn thân làm nhân viên hành chánh ở đó suốt từ 1968 đến 1975, nhà ở gần bến phà Mỹ Thuận, tên là Bảy Tân, hình như là Phạm Minh Tân thì phải.

Tôi tìm gặp ông Tân không mấy khó khăn. Ông Tân cho biết khoảng năm 1969, 1970 có đại úy Xe khét tiếng ác ôn, phụ trách điều tra các vụ quan trọng. Hiện nay ông Tân không biết rõ đại úy Xe ở đâu nhưng có biết địa chỉ bà vợ nhỏ của y tại số 18/11 đường Phạm Thế Hiển, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh, do một lần đại uý Xe nhờ ông Tân mang thư và quà về cho bà này đến tận nhà.

Tôi đã tìm được ngôi nhà này. Bà vợ bé đại úy Xe trả lời một câu khiến tôi thở dài: ổng đi Mỹ lâu rồi, với con bồ nhí. Bà này có vẻ oán hận đại úy Xe vì đã bỏ rơi bà ta.

Ngay lúc quay lưng ra cửa tôi mới chợt nghĩ ra và hỏi:

- Thưa chị, ngoài ông Tân trước đây còn có ai thân cận với đại úy Xe đến thăm nhà chị?

- Có chớ. Anh Mười Một và út Em hiện còn bên

Phú Nhuận.

Tôi đến nhà ông Mười Một thì được người thân ông cho biết ông đã đi Mỹ theo diện H.O hồi năm kia, ngôi nhà này ông bán lại cho người em gái. Tôi lại thở dài.

Cuối cùng tôi cũng được an ủi. Tại ngôi nhà số 86/11 đường Cách mạng tháng Tám, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh tôi đã gặp anh út Em, năm nay đã 61 tuổi. Anh cho biết anh không xuất cảnh theo diện H.O vì còn cha mẹ già và hiện nay anh có một cơ sở chế biến đồ nhựa đang ăn nên làm ra.

Tôi phải trình bày lý do một cách dài dòng để anh út Em hiểu cặn kẽ. Tôi sợ anh hiểu nhầm rằng tôi có ý định xới lên chuyện cũ vì lòng thù hận.

Anh út Em nói:

- Nhớ rồi. Cái vụ ông già Chín Việt cộng lừa mấy ông lớn để nhảy xuống sông đó mà. Vụ đó làm mất mặt ông Trưởng ty Công an Phong Dinh dữ à nghe.

Anh út Em trầm ngâm một lúc rồi gật đầu nói tiếp: - Ông già ghê thiệt. Có thể nói các ngón nghề ác hiểm nhất của đại úy Xe cũng không đánh gục được ông. Cuối cùng ông còn chơi lại một vố làm rung động cả Ty Công an lúc bấy giờ. Sau khi bị đổ nước xà bông đến chết đi sống lại nhiều lần, rồi thì tra điện, đóng đinh vào mười đầu ngón tay, bị dùng kìm bẻ hết răng cửa nhưng không ai có thể cạy miệng ông già được một lời khai nào có giá trị cả.

Trung úy Luyện nói với đại úy Xe:

- Thôi đem bắn mẹ nó cho rồi, tôi mệt quá đại úy à. Với thằng giá này kể như mình hết cách!

Đại úy Xe ngồi im lặng, bậm môi, mắt vằn lên những tia máu trông thật đáng sợ. Y nói:

- Để tôi thử chiêu này xem sao.

Ông ta lệnh cho chúng tôi đào một cái hố thật sâu. Buổi chiều tôi được lệnh của đại úy Xe đến nói với ông Chín: Này ông già, chiều nay ông được ăn một bữa cơm tự chọn, ông muốn ăn gì cũng được, nói đi.

Ông Chín lắc đầu, nét mặt hoàn toàn dửng dưng.

- Ăn gì cũng được.

Khoảng 12 giờ khuya đêm đó ông Chín bị bịt mắt dẫn đi. Khi ông Chín đứng sát bên miệng hố thì đại úy Xe bảo tôi đến sau lưng ông nói nhỏ với đại úy. Nói nhỏ nhưng cố ý để ông Chín nghe được, như sau: Thưa đại úy, theo em thì nên cởi trói cho ông ta.

Đại úy Xe bảo: Cũng được.

Ông Chín được cởi trói và bất thình lình bị xô té nhào xuống hố. Tám đứa chúng tôi lập tức lấp đất lại để chôn sống ông già. Đất lắp gần đầy hố ông ta vẫn không hề kêu ú ớ gì cả. Đại úy lắc đầu uể oải ra lệnh: Moi nó lên.

Thế là ông Chín được moi lên và dẫn trở về buồng giam.

Anh Mười Em nói: Tôi nghĩ là đại úy Xe sử dụng chiêu thức này để hù ông già Chín, để ông ta nghĩ rằng mình bị thủ tiêu bí mật giữa đêm khuya mà sợ hãi, buộc phải khai báo. Nhưng hình như ông già đã chuẩn bị sẵn cho cái chết dù bất kỳ hình thức nào nên không hề nao núng.

Về đến phòng điều tra, ông Chín bị dùng dây dù buộc hai đầu ngón tay cái bắt chéo qua lưng rồi kéo bổng chân lên xà nhà. Hai tiếng đồng hồ sau thấy ông không còn động đậy gì cả, đại úy Xe ra lệnh thả ông xuống. Bấy giờ ông đã tắt thở. Một nhân viên y tế được triệu đến làm hô hấp nhân tạo. Chừng năm phút sau thì tim ông già bắt đầu đập trở lại. Sau đó ông được đưa đi chuyền nước biển, bồi bổ cơ thể. Ngày hôm sau thì ông già có vẻ trở lại bình thường.

Đại úy Xe tuyên bố sẽ tung ra một chiêu cuối cùng, nếu ông già không chịu khai thì y sẽ chấp tay sá ông ta ba sá. Tôi rùng mình! Không hiểu hắn ta lại giở trò ma quỉ gì đây, lần này chắc ông già chịu không nổi.

Ông Chín bị còng hai chân hai tay (còng phía trước). Đại úy Xe đặt vào giữa một cái ống thiếc, đường kính chừng hơn hai tấc, trong đó được bỏ đầy than đá. ống thiếc nóng lên đỏ rực. Đại úy Xe gọi là trò chơi Ôm ống khói. Nếu tay chân ông Chín chạm vào ống khói thì sẽ bị phỏng, cháy xèo xèo.

Lệnh cho mọi người làm xong chuyện đó, đại úy Xe bỏ đi đâu mất biệt không ai biết.

Chừng bốn giờ đồng hồ sau tôi bỗng nghe ông Chín kêu lên một cách đau đớn: Trời ơi, chết! Mở ra mau, tôi sẽ khai!.

Bấy giờ tôi mới chạy đi tìm đại úy Xe. Thâm tâm tôi cầu mong cho ông già khai ra để đỡ phải hứng chịu những cực hình quá đau đớn! Tôi gặp đại úy Xe trong sòng bài. Ông ta đang thua cháy túi và quên mất chuyện ông già Chín. Tôi kề tai nói nhỏ với y là ông già Chín đã chịu rồi, đại úy tính sao? Tôi phải nói đến hai lần y mới sực nhớ ra và bảo: Mở còng ra, chút xíu tôi về.

Sau đó tôi được biết là ông già Chín đồng ý dẫn lính tới một kho vũ khí của Việt cộng giấu ở cù lao Mây cách chợ Trà Ôn chừng vài cây số.

Một tiểu đoàn gồm nhiều lính thám báo và hải quân và mười hai tàu chiến ầm ầm kéo về địa điểm trên. Hôm đó có các vị quan lớn của tỉnh Phong Dinh, có đại úy Xe và cả tôi nữa. Riêng đại úy Xe được coi là một người hùng, đã có công lớn trong việc đánh gục ông già Việt Cộng cứng đầu. Hôm đó đại úy Xe ăn mặc rất bảnh bao, nét mặt rất vui, vì ông già Chín hứa lấy mạng sống của mình để đảm bảo lời khai của ông là sự thật.

Đoàn tàu rời bến Ninh Kiều chừng hai mươi phút thì ông già Chín bảo mắc tiểu. Một người lính được lệnh dẫn ông ra phía sau. Ông đứng trên boong tầu có lan can che chắn, lại bị còng tay ngoặc ra phía sau. Bất ngờ ông đạp ngã người lính và co giò nhảy qua lan can rớt tõm xuống sông. Hành động của ông khiến tất cả đều sững sờ vì không ai có thể ngờ tới. Riêng tôi thì tôi hiểu. Ông già chọn cách chết như thế để khỏi phải tiếp tục chịu đựng những ngón đòn tàn bạo của đại úy Xe.

Hôm đó chỉ có đại úy Xe và ông Trưởng ty Công an chửi bới om sòm và lồng lộn như hai con thú bị mất mồi, còn lại cả trăm quân lính nhìn xuống mặt sông im lặng. Cái chết của ông già Chín thật sự gây ấn tượng, khiến mọi người phải im lặng.

Anh út Em sửa lại thế ngồi và nói:

- Hôm đó về nhà tôi đem chuyện của ông Chín kể lại cho vợ tôi nghe. ờ, bả có nhà, ở đằng sau kìa, chắc bả còn nhớ mà. Nghe xong bả phán một câu: Một cái chết có tư cách.

- Thú thật với anh - Anh út Em nói: Từ hôm chứng kiến cái chết của ông già Chín tôi bắt đầu cảm thấy hết sức uể oải với nhiệm vụ mình đang làm ở Ty Công an.”

Về cái chết của ông Chín Mập, những người lính chứng kiến hôm ấy đến nay chắc còn lại ở Việt Nam không phải là ít mặc dù đã ba mươi năm rồi, nhưng tôi không muốn đi tìm gặp thêm ai nữa. Bằng linh cảm của mình tôi tin chắc là anh út Em đã kể với tôi hoàn toàn sự thật và đầy đủ. Sự việc đã nằm im dưới lớp thời gian ba mươi năm rồi, và anh út Em kể lại vô tư như là kỷ niệm, anh không có lý do gì phải nói khác đi cả. Vả lại từ đầu tôi bị day dứt và cái chết của ông Chín, tôi quyết tâm đi tìm hiểu sự thật không phải để chứng minh với ai và cũng không ai yêu cầu tôi phải làm rõ chuyện này; càng không phải vì ông Chín hay bà Chín. Tôi làm chuyện này là để thoả mãn sự tò mò và day dứt của chính tôi. Và bây giờ thì tôi hoàn toàn thoả mãn.

Mỗi lần có dịp về thăm nhà, tôi xuống bến Ninh Kiều đón đò dọc về Cầu Quan, Ninh Thới quê tôi! Đò xuôi dòng về Trà Ôn, đi qua cù lao Tân Qui, Bến Cát... lòng tôi bồi hồi ngắm mặt sông mênh mông hiền hoà. Cách đây ba mươi năm ông Chín đã hủy thân mình trên dòng sông này bảo vệ sự nghiệp thiêng liêng cao cả. Mỗi lần đi, về sao tôi cảm thấy mặt sông cứ gợn lên nỗi buồn man mác. Hình như linh hồn ông Chín vẫn còn phảng phất đâu đây trên những làn khói sương lãng đãng trôi trên mặt sông.

Cũng vẫn là sông nước đó thôi, nhưng sao bây giờ mỗi lần ngắm lại tôi cảm thấy lòng dâng lên bao nỗi buồn và càng thân thương gắn bó biết bao.