Tiêu chí đánh giá người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo HĐLĐ

 •  19:02 thứ ba ngày 24/11/2015
Ngày 20/9 vừa rồi, Tôi có nhận được thông báo nghỉ việc từ giám đốc công ty với lý do tôi không hoàn thành công việc theo hợp đồng. Trong thông báo có yêu cầu chấm dứt hợp đồng vào ngày 30/9. Xin hỏi, công ty tôi có được phép cho tôi thôi việc như vậy không ?

Trả lời:
Thứ 1. Căn cứ pháp luật để công ty bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng với bạn.          
Theo khoản 1 Điều 38 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định những trường hợp người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động là:
“ Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;”
Theo Khoản 1,  Điều 12 Nghị định 05/2015/NĐ-Cp hướng dẫn Bộ luật lao động quy định:
“1. Người sử dụng lao động phải quy định cụ thể tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của doanh nghiệp, làm cơ sở đánh giá người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ do người sử dụng lao động ban hành sau khi có ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở”
Như vậy, nếu bạn thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của doanh nghiệp (tiêu chí này phải có ý kiến của đại diện tập thể người lao động thông qua)  thì công ty bạn được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn.
Thứ 2. Thời gian báo trước về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động:
Theo điểm a, khoản 2, Điều 38 BLLĐ có quy định:  Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
Theo như bạn đưa ra, công ty bạn gửi thông báo cho bạn chỉ trước 10 ngày tính từ ngày nhận thông báo tới ngày bạn chấm dứt hợp đồng lao động. Vậy công ty bạn đã làm sai quy định về thời hạn báo trước và công ty bạn sẽ phải bồi thường cho bạn một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước mà cụ thể ở đây là 35 ngày. (Khoản 5, Điều 42)

Thứ 3. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động.
 Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.
Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động. (Khoản 2, 3 Điều 47, BLLĐ).
Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. (Điều 48, BLLĐ)./.

Bình luận

* Nhập tiếng Việt có dấu