Hiện đại hoá mạng lưới và dịch vụ viễn thông, đổi mới cấu trúc mạng đón đầu cạnh tranh hội nhập: Lê Tiến Tý - Trưởng Ban Viễn thông

 •  10:50 thứ sáu ngày 10/09/2004
Phát huy truyền thống của đơn vị gắn liền với truyền thống và sự phát triển của Ngành, đội ngũ CBCNV Ban Viễn thông của Tổng Công ty BC-VT Việt Nam, qua nhiều thế hệ đã phấn đấu trưởng thành. Khi bước vào triển khai kế hoạch tăng tốc độ phát triển BC-VT giai đoạn I, Ban Viễn thông có 32 CBCNV, đến nay đã có 44 CBCNV gồm 13 nữ, 31 nam, trong đó có 01 tiến sỹ, 4 cao học còn lại đều là kỹ sư, đa số cán bộ trẻ có trình độ kỹ thuật, ngoại ngữ, tin học có khả năng tiếp thu nhanh đáp ứng yêu cầu công tác. Với chức năng là cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ tham mưu, đầu mối giúp Hội đồng Quản trị và Tổng giám đốc tổ chức quản lý, chỉ đạo và thừa lệnh Tổng giám đốc điều hành trong lĩnh vực tổ chức, quản lý và khai thác mạng lưới Viễn thông của Tổng Công ty BC-VT Việt Nam.

Trong những năm qua, mọi hoạt động của Ban Viễn thông đã gắn liền với các phong trào thi đua, trọng tâm là hiện đại hoá mạng lưới và dịch vụ viễn thông, đổi mới cấu trúc mạng đón đầu cạnh tranh hội nhập đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển hiện đại hoá của Ngành như:

1. Phát triển mạng lưới và dịch vụ: Năm 1991, mạng viễn thông Việt Nam còn rất lạc hậu, công nghệ chủ yếu là analog, dịch vụ nghèo nàn, hạn chế trong điện thoại và điện báo truyền thống, khai thác nhân công, kinh doanh kém hiệu quả. Toàn quốc chỉ có 140.000 thuê bao, mật độ điện thoại 0,18 máy/100 dân, sản lượng điện thoại đường dài trong nước 32,2 triệu phút, quốc tế 19,9 triệu phút, doanh thu toàn Ngành 483 tỉ đồng.

Thực hiện Kế hoạch hiện đại hoá mạng lưới là một khó khăn lớn đối với toàn Ngành nói chung, trong đó Ban Viễn thông nói riêng. Được sự quan tâm của Lãnh đạo Tổng Công ty , Ban được tăng cường thêm một số CBCNV trẻ, tuy có ngoại ngữ, có kỹ thuật, có tin học, nhưng kinh nghiệm về quản lý còn thiếu. Vì vậy, để đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công việc, đòi hỏi CBCNV cũ và mới phải vươn lên tự học, tự đọc, tự nghiên cứu về mọi mặt. Tại Ban đã tổ chức nhiều buổi báo cáo chuyên đề, mời chuyên gia bên ngoài hoặc do lãnh đạo, chuyên viên trong Ban được giao chuẩn bị trình bày để cùng trao đổi học hỏi. Mặt khác, Ban có kế hoạch cụ thể hàng năm cử CBCNV thay phiên nhau tham dự các khoá đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, dài hạn nhằm bổ sung năng lực kiến thức, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ mới và quản lý viễn thông. Nhờ vậy, Ban có đủ năng lực triển khai, nghiên cứu đề xuất và tiến hành hàng loạt những công việc cấp thiết cho phát triển hiện đại hoá mạng lưới Viễn thông như:

- Đã xây dựng đưa ra được những nguyên tắc, mô hình, tổ chức mạng viễn thông Việt Nam theo định hướng hiện đại hoá, bỏ qua công nghệ trung gian, đi thẳng vào công nghệ mới phù hợp với khả năng, điều kiện của ngành Bưu điện trong từng giai đoạn: Số hoá hệ thống chuyển mạch; cáp quang hoá truyền dẫn liên, nội tỉnh; lựa chọn công nghệ SDH; hệ thống báo hiệu C7; đồng bộ mạng; di động qua vệ tinh, truy nhập V5.2; phát triển các dịch vụ mới GSM, nhắn tin, Cardphone, Internet, ISDN, CDMA, chuyển vùng di động quốc tế...

- Hướng dẫn, thẩm định, trình duyệt nhiều cấu trúc, phương án, dự án phát triển mạng quốc tế, quốc gia và các địa phương ;

- Lập kế hoạch đánh số toàn mạng.

- Chỉ đạo, hướng dẫn, điều hành kết nối, hoà mạng quốc tế, quốc gia, các công trình Viễn thông hoàn thành xây dựng đưa nhanh vào khai thác để phát huy hiệu quả cao nhất;

- Xây dựng ban hành các quy chế, quy định, quy trình quản lý, khai thác kỹ thuật - dịch vụ Viễn thông đồng bộ với phát triển mạng.

Đây là những việc mới, chưa có kinh nghiệm, thiếu các phương tiện trợ giúp như: máy vi tính, photocopy, máy in... (cả Ban Viễn thông chỉ được trang bị 01 máy tính 386 cho Trung tâm ĐHTT) nên hầu hết phải làm nhân công. Để khắc phục nhược điểm này, Ban Viễn thông đã chủ động tổ chức các hình thức thi đua nội bộ, có đánh giá rút kinh nghiệm, khen thưởng kịp thời, nhằm động viên  CBCNV phát huy tính chủ động, sáng tạo vượt qua khó khăn hoàn thành công việc được giao với thời gian và chất lượng tốt.

Đến cuối năm 1992 mạng lưới viễn thông Việt Nam đã lắp đặt đưa vào sử dụng hệ thống tổng đài E10B Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, 25/53 tổng đài số cấp tỉnh, 48/496 tổng đài điện tử cấp huyện, 2 tổng đài cửa quốc tế, 02 tổng đài transit quốc gia; 04 trạm vệ tinh mặt đất hệ Intelsat và 02 trạm hệ Intersputnik, cùng với hệ thống viba số Hà Nội, TP HCM đi các tỉnh đã thực hiện tự động hoá đường dài quốc tế, trong nước đến 25/53 tỉnh, thành phố.

Triển khai thực hiện kế hoạch tăng tốc độ phát triển giai đoạn I (1993-1995) với mục tiêu phát triển hiện đại hoá nhanh mạng Viễn thông trong cả nước, ưu tiên thông tin quốc tế để phát triển mạng trong nước. Với kinh nghiệm bước đầu và bằng những nỗ lực cao, Ban đã góp phần cùng các đơn vị triển khai nhanh các dự án, phương án phát triển mạng, kết nối hoà mạng đưa vào khai thác kịp thời các hệ thống thiết bị mới.

Tính đến cuối năm 1995, kết thúc tăng tốc giai đoạn I đánh dấu một mốc son của Viễn thông Việt Nam đã thực hiện tự động hoá đến 53/53 tỉnh, thành phố, gần 100% cấp huyện, với 780.000 máy điện thoại, đạt 1 máy/100 dân. Sản lượng điện thoại liên tỉnh (đi) đạt trên 700 ngàn phút (tăng bình quân 84,62%/ năm). Sản lượng quốc tế (đi + đến) đạt 215,5 triệu phút, tăng bình quân 48,15%/ năm.

Mạng Viễn thông quốc tế đã có 2.972 kênh (năm 1992 có 659 kênh), thêm 02 tổng đài cửa quốc tế hoạt động cùng với 02 tổng đài cửa có sẵn, đã thoả mãn nhu cầu thông tin đi quốc tế lúc bấy giờ.

Từ năm 1996 toàn Ngành triển khai thực hiện kế hoạch tăng tốc giai đoạn II (1996-2000) với mục tiêu: Tiếp tục đẩy nhanh tốc độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật mạng BC-VT theo hướng hiện đại, đồng bộ và rộng khắp. Đa dạng hoá và hiện đại hoá các loại hình dịch vụ với chất lượng ngày càng cao, quy mô và số lượng ngày càng lớn, đảm bảo hiệu quả kinh tế, để đến năm 2000 Bưu điện nước ta đạt mức trung bình của khu vực, tạo đà phát triển đầu thế kỷ 21 theo xu thế thời đại xã hội hoá thông tin và văn minh tin học.

Những mục tiêu đó đặt ra cho Ban Viễn thông những công việc lớn cần triển khai như sau:

- Tiếp tục đẩy nhanh tốc độ phát triển mạng viễn thông theo hướng hiện đại, đồng bộ, rộng khắp;

- Phát triển đa dạng hoá, hiện đại hoá các loại hình dịch vụ với chất lượng và hiệu quả cao;

- Hoàn thiện chất lượng mạng hiện có.

Giai đoạn I ngành Bưu điện tập trung vào công việc phát triển nhanh mạng lưới là chủ yếu. Trong điều kiện hàng rào cấm vận chưa được phá bỏ, không nhập được thiết bị công nghệ cao, thiếu vốn phải tranh thủ mọi đối tác cung cấp thiết bị và hợp tác làm ăn hai bên cùng có lợi. Mặt khác, chưa có các kinh nghiệm về quản lý công nghệ mới. Vì vậy, ngoài cái được là mạng lưới tự động hoá rộng khắp là cơ bản, nhưng cũng còn khá nhiều tồn tại như: Trên mạng có nhiều chủng loại thiết bị, do nhiều hãng sản xuất, thiếu đồng bộ, chất lượng không đồng đều... Vấn đề báo hiệu, đồng bộ mạng còn nhiều tồn tại ảnh hưởng đến chất lượng thông tin, nhất là trong việc cung cấp các dịch vụ mới. Để giải quyết vấn đề này, Ban Viễn thông đã đưa ra những giải pháp giải quyết từng bước. Trong đó có việc tổ chức nghiên cứu sắp xếp sử dụng hợp lý những trang thiết bị hiện có, đưa mạch báo hiệu C7 thay thế cho R2 để nâng cao chất lượng cuộc gọi, phát triển các dịch vụ mới. Kế hoạch đánh số cho 25 - 30 năm được xây dựng và thực hiện. Ban Viễn thông là đầu mối chuẩn bị và tổ chức thực hiện KH đổi số toàn mạng Viễn thông Việt Nam vào ngày 01-3-1996. Với một khối lượng công việc rất lớn, phức tạp, lực lượng cán bộ kỹ thuật toàn Ngành đã xử lý và thực hiện đổi số thành công tốt đẹp.

Để từng bước khắc phục những tồn tại trên mạng, Ban tiến hành lập kế hoạch triển khai công tác đo kiểm, bảo dưỡng các thiết bị đang khai thác và đo kiểm các chỉ tiêu chất lượng thiết bị trước khi hoà mạng thiết bị mới. Đây là những việc làm hết sức cần thiết để duy trì chất lượng mạng hiện đại mà trước đây chưa làm hoặc nói đúng hơn chưa có điều kiện để làm. Vấn đề bảo dưỡng, đo kiểm cũng còn những điểm cần được bổ cứu nâng cao như: Tiến độ thực hiện công tác đo kiểm còn chậm vì thiếu thiết bị đo và thiếu cơ chế về kinh tế... Tuy vậy, bước đầu nhiều vấn đề tồn tại trên mạng đã được xử lý có hiệu quả như: Cơ bản khắc phục được tình trạng chẻ cước băm cước hoặc rớt cuộc gọi, bỏ sót cước của một số tổng đài, tăng tỉ lệ cuộc gọi thành công một số hướng trước đây đạt thấp...

Đã nghiên cứu đề xuất, chủ trì hoặc tham gia hoạch định nhiều chủ trương, đề án, dự án, phương án phát triển dịch vụ mới. Trong đó có một số dịch vụ mới: Dịch vụ di động GSM đầu tiên của VMS; chủ trì tổ xây dựng dự án phát triển 03 dịch vụ mới của VNPT: Thông tin di động GSM, nhắn tin và điện thoại dùng thẻ toàn quốc; gần đây là dịch vụ Internet, di động trả tiền trước, Roaming di động quốc tế... Các dịch vụ này hiện đang phát triển khá mạnh. Đồng bộ với việc phát triển đa dạng hoá các dịch vụ VT, trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của thị trường và nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng đặt ra cho Ban VT các yêu cầu mới về công tác quản lý nghiệp vụ để ổn định khai thác và tiếp tục phát triển và đạt hiệu quả cao. Ban VT đã bám sát tình hình khai thác các dịch vụ, đề xuất và xây dựng ban hành nhiều quy định, hướng dẫn quản lý khai thác các dịch vụ, kiểm tra thực hiện, đúc rút đánh giá hiệu quả khai thác để đưa ra các giải pháp hoàn thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ; giải quyết, xử lý nhiều khiếu nại về kỹ thuật - dịch vụ của khách hàng trên cơ sở luật pháp và bình đẳng giữa nhà cung vấp và người sử dụng dịch vụ.

2. Đổi mới cấu trúc mạng chuẩn bị cho giai đoạn cạnh tranh hội nhập trong thời gian sắp tới:

Tình trạng công nghệ viễn thông, tin học thay đổi rất nhanh và cạnh tranh, hội nhập rất gay gắt là những thách thức đối với chúng ta. Quán triệt chủ trương và chiến lược phát triển của Lãnh đạo Ngành, trong thời gian qua Ban VT đã tập trung đổi mới khâu xây dựng cấu trúc phát triển mạng của VNPT theo định hướng tiếp cận, cập nhật với công nghệ tiên tiến, tận dụng các nguồn lực sẵn có trên mạng và phù hợp xu thế toàn cầu hoá trong việc ứng dụng các công nghệ và dịch vụ mới. Ban Viễn thông đã tiến hành những việc trọng tâm như sau:

- Soạn thảo cấu trúc phát triển mạng tổng thể của VNPT đã được Hội đồng Quản trị duyệt. Đây là chủ trương, định hướng rất quan trọng để làm cơ sở xây dựng các cấu trúc phát triển mạng cụ thể;

- Xây dựng các biện pháp để thực hiện cấu trúc phát triển mạng tổng thể. Văn bản này cũng đã được Hội đồng Quản trị thông qua;

- Dựa trên hai văn bản đó, Ban Viễn thông đã tập trung hướng dẫn xây dựng, thẩm định, trình duyệt cấu trúc phát triển mạng 2001-2005 của các đơn vị. Đến nay lãnh đạo Tổng Công ty đã phê duyệt được 61 Bưu điện tỉnh, thành phố và các công ty dọc ;

- Đồng bộ với việc xây dựng cấu trúc phát triển mạng hiện đại, Ban Viễn thông đã hướng dẫn và thẩm định kế hoạch đánh số đến năm 2025 của các đơn vị. Với cấu trúc mới, mạng lưới Viễn thông của Tổng Công ty sẽ được giảm cấp mạng từ 04 cấp xuống còn 03 cấp, tiến tới còn 2 cấp. Các tổng đài độc lập sẽ được từng bước đưa ra khỏi mạng, công nghệ mới được áp dụng mạnh mẽ, mạng lưới chuyển mạnh để đón đầu các dịch vụ của công nghệ Internet, thoại IP, truyền dữ liệu tốc độ cao, thông tin di động thế hệ 3 và thông tin vệ tinh;

- Trong lĩnh vực quản lý cũng được quan tâm đặc biệt theo định hướng tập trung hoá và thống nhất hoá với việc áp dụng các trung tâm quản lý mạng TMN, OMC, các trung tâm tính cước và chăm sóc khách hàng CSS. Những đổi mới này nhằm củng cố và tạo thêm sức mạnh cho mạng lưới tạo ra sự phối hợp với xu thế phát triển chung của khu vực và thế giới, chuẩn bị cho VNPT tiến vào cạnh tranh và hội nhập thành công.

Trong gần 10 năm qua, mọi hoạt động công tác của Ban Viễn thông đã gắn liền với phong trào thi đua. Đó là động lực thúc đẩy CBCNV trong Ban vượt qua mọi khó khăn, thử thách vươn lên về mọi mặt, hoàn thành tốt những nhiệm vụ chính trị được giao và các phong trào khác như văn hoá, thể thao ; Xanh - Sạch - Đẹp ở cơ quan... Ban Viễn thông cũng đã thường xuyên, phát động, hưởng ứng thực hiện tích cực, đã góp phần nhỏ bé vào sự phát triển chung của Ngành trong thực hiện chiến lược phát triển hiện đại hoá mạng lưới và dịch vụ VT. Những thành tích của Ban đã được các cấp có thẩm quyền ghi nhận tặng 26 phần thưởng các loại, trong đó có:

- 01 Huân chương Lao động hạng Ba do Nhà nước tặng về thành tích công tác xuất sắc giai đoạn 1994-1998 ;

- 04 Bằng khen của Chính phủ về công tác tổ chức đảm bảo thông tin phục vụ xây dựng đường dây điện lực 500 KV, Hội nghị ASEAN và

Hội nghị Cộng đồng các quốc gia sử dụng tiếng Pháp được tổ chức tại Việt Nam và công tác khắc phục sự cố Y2K ;

- 05 cờ đạt thành tích thi đua xuất sắc, trong đó có 1 cờ về phong trào thể thao;

- 16 bằng khen của cấp Bộ ngành về thành tích công tác chuyên môn, phục vụ đổi số, PCLB, khắc phục sự cố máy tính năm 2000. Đặc biệt Chi bộ Ban Viễn thông liên tục các năm đạt danh hiệu Chi bộ trong sạch vững mạnh; Công đoàn, Chi đoàn Thanh niên đều đạt danh hiệu xuất sắc trong thi đua;

Về cá nhân trong Ban đã được tặng thưởng 01 Huân chương Lao động hạng Ba, 04 Bằng khen Chính phủ, 40 bằng khen các loại và nhiều danh hiệu Chiến sĩ Thi đua từ năm 1991 đến nay.

Bên cạnh những thành tích đã đạt được, hoạt động của Ban Viễn thông cũng còn những tồn tại yếu kém, đó là: công tác quản lý chưa theo kịp mạng lưới, dịch vụ phát triển hiện đại hoá nhanh, thị trường cạnh tranh sôi động, một số dịch vụ mới triển khai chậm hoặc triển khai rồi nhưng chưa hoàn thiện quy chế quản lý khai thác. Ban Viễn thông đang tập trung khắc phục vấn đề này bằng cách rà soát, bổ sung biên soạn những văn bản pháp quy và hướng dẫn còn thiếu, đặc biệt khi đưa các dịch vụ mới vào khai thác phải có văn bản quản lý và hướng dẫn thực hiện đầy đủ, đồng bộ.

Đạt được những kết quả như trên ngoài sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể CBCNV trong Ban, dưới sự lãnh đạo của Chi bộ, Ban Viễn thông luôn được sự quan tâm Lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, thường xuyên của Lãnh đạo Tổng Công ty, Đảng uỷ Tổng Công ty, sự phối hợp và giúp đỡ của Công đoàn Cơ quan, Văn phòng và các Ban chức năng. Nội bộ đoàn kết, phát huy tốt ý thức tự chịu trách nhiệm trong công việc, lãnh đạo và chuyên viên luôn tận tuỵ với công tác. Có chương trình, nội dung thi đua cụ thể, kết hợp với công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá động viên kịp thời. Luôn quan tâm đến đời sống vật chất tinh thần của CBCNV.

Trước những thách thức to lớn của giai đoạn cạnh tranh và hội nhập trong thời gian tới, cán bộ chuyên viên Ban Viễn thông quyết tâm phấn đấu, đoàn kết thi đua hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Tổng Công ty giao, giành nhiều thành tích cao hơn nữa./.

Xem nhiều nhất