Truyền thống ngành Bưu Điện

TRUYỀN THỐNG NGHĨA TÌNH

Thứ Ba, 16/12/2003, 17:09

Nghĩa tình- một chuẩn mực của đạo lý bền vữngKhái niệm hai chữ nghĩa và tình:Nghĩa và tình là hai từ riêng biệt Nhưng có quan hệ về nội dung, được ghép với nhau để nói lên cảm xúc và hành vi về mối quan hệ giữa con người và con người. Trong phạm vi này, chữ “Nghĩa” là làm việc vì người khác mà không mu cầu lợi ích cho chính mình; chữ “Tình” là tình thương yêu, như yêu đất nước, dân tộc, quê Hương, tổ tiên-ông bà-cha mẹ-vợ con, thầy trò, đồng chí, đồng đội...Như vậy, cặp từ nghĩa tình là chỉ sự yêu thương và làm việc vì người khác mà không mưu cầu lợi ích riêng. Chữ Tình bắt nguồn từ cảm xúc rồi đến hành vi Nghĩa vì người khác, thì nghĩa tình mới đầy đủ ý nghĩa và sâu sắc.

V.2 Sống có nghĩa tình- Một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam

Truyền thống sống có Nghĩa-Tình của Bưu điện Việt nam được bắt nguồn từ truyền thống của dân tộc. Dân tộc Việt Nam đã có khoảng 4000 năm lịch sử. Do hoàn cảnh địa lý, có nhiều ảnh hưởng của nền văn hoá phát triển là Trung quốc và ấn độ; đồng thời, nước ta đã trải qua một nghìn năm chịu sự đô hộ của các thế lực thế lực phong kiến phương Bắc. Nhưng dân tộc Việt Nam vẫn còn tồn tại và phát triển. Đó là nhờ tinh thần yêu nước, đức hi sinh, lòng dũng cảm, trí thông minh của biết bao thế hệ tổ tiên. Đó chính là nhờ trong hoàn cảnh nào cũng luôn giữ vững truyền thống sống có nghĩa tình và xem đó là một trong các yếu tố có ý nghĩa quyết định để giữ nước, đất nước ta không bị xâm lược, dân tộc ta khỏi bị đồng hóa.

Dân tộc Việt Nam chịu ảnh hưởng khá sâu đậm của Phật giáo và Nho giáo ; có tư tưởng từ bi, bác ái, độ lượng nên truyền thống Nghĩa-Tình càng được củng cố và đậm nét hơn.

V.3 Nghĩa tình là lẽ sống của người Bưu điện qua bao thế hệ

V.3.1 Trong kháng chiến

Nếu như ai đã từng sống trong cuộc đời nô lệ, đã thấy cảnh 2 triệu người chết đói năm 1945 của thế kỷ này, sẽ cảm nhận phần nào cái nhục mất nước và sẽ hiểu được vì sao không khí Cách mạng tháng Tám lại sôi sục như thế, dân tộc Việt nam sẵn sàng chấp nhận hy sinh để tiến hành 2 cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ và ác liệt như vậy. Vì ta chiến đấu để dân tộc ta được độc lập, tự do và cũng vì đạo lý làm người.

Ngành Bưu điện Việt Nam ra đời trong không khí ngày hội của cách mạng tháng Tám và hàng vạn công nhân viên chức đã tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến đó. Trên một vạn công nhân Bưu điện đã hy sinh anh dũng và tình yêu thương đồng chí đồng đội làm ta xúc động. Chính các thế hệ đi trước của Bưu điện Cách mạng Việt Nam, cùng với dân tộc, bằng mồ hôi xương máu, trí tuệ và tuổi thanh xuân của mình, đã để lại cho các thế hệ Bưu điện mai sau một ngành Bưu điện độc lập tự do; cùng với các thế hệ Bưu điện ngày nay làm rực rỡ thêm truyền thống mười chữ Vàng, trong đó truyền thống Nghĩa-Tình vừa mang đậm tính dân tộc, vừa có bản sắc đặc trưng của ngành Bưu điện và đạo nghĩa làm người của những người Bưu điện Việt Nam.

Ngành Bưu điện hoạt động trên một hệ thống dây truyền cả nước, phải nhiều người cùng hoàn thành nhiệm vụ. Như một đường dây giao liên Bắc-Nam trên đường mòn Trường Sơn phải có nhiều trạm chuyển tiếp, do đó anh chị em giao liên ở trạm Hiên, Giằng (Quảng Nam) quen biết anh chị em giao liên ở trạm Nam Đông, A Lưới (Thừa Thiên Huế); anh chị em giao liên Thừa Thiên Huế quen biết anh chị em giao liên Quảng Trị... Các báo vụ viên dù cha gặp mặt nhau, một người ở TW Cục, ở Khu 9 một người ở tỉnh xa, Nhưng chỉ nghe tiếng manip đã nhận biết bạn đài của mình. Phiên nào không gặp nhau, lòng bồi hồi lo lắng không biết Đài bạn ra sao, còn hay mất!

Khi đi qua vùng nguy hiểm, đề phòng địch phục kích phải có người đi trước dò đường để người sau đa đón cán bộ, đem công văn tài liệu. Khi bị địch phục kích thì có người ở lại chặn đánh địch, chạy theo hướng khác thu hút địch để cho đồng đội của mình đa cán bộ theo đường khác an toàn.

Tình nghĩa đồng chí có khi phải hy sinh cái quý giá và thiêng liêng nhất của mình như tình mẫu tử. Trường hợp chị Lê Kim Tiến, giao liên tỉnh Cần Thơ trong kháng chiến chống Mỹ, bị địch bắt và trong nhà tù chị đã sinh con. Địch hết tra tấn lại dụ dỗ nếu khai ra người bạn cùng hoạt động thì chị sẽ được sống và nuôi con. Nhưng để bảo vệ đồng chí, đồng đội, chị chấp nhận hy sinh và vĩnh viễn xa đứa con thơ vừa đứt ruột sinh ra. Chị Bùi Thị Nhạn, giao liên tỉnh Ninh Bình thời chống Pháp bị địch bắt cùng với đứa con nhỏ ba tháng tuổi. Nhưng trước mũi súng của giặc chị cho con bú lần cuối cùng, gửi lại con nhờ bà con nuôi và thà chết chứ không khai. Chị vĩnh viễn xa đứa con thân yêu vì nhiệm vụ mà phải hy sinh tình mẹ con để bảo vệ đồng chí, để vì nghĩa tính lớn lao của dân tộc được độc lập, đồng bào được ấm no.

Người ta nói rằng chiến tranh là sự thử thách lớn của dân tộc về ý chí, về lòng dung cảm và trí thông minh. Nhưng cũng cần nói thêm: Chiến tranh cũng là sự thử thách lớn về tình nghĩa đồng chí, đồng đội. Không có tình nghĩa đồng chí, đồng đội làm sao có thể đồng lòng nhất trí, hợp sức để hoàn thành nhiệm vụ đánh giặc, giữ nước. Không có tình nghĩa đồng chí, đồng đội làm sao giúp ta vợt qua được khó khăn, lúc ốm, khi đau, động viên an ủi nhau trong cuộc sống xa nhà. Sống nghĩa tình với đồng chí, đồng đội, nhiều khi không có sự kiện cụ thể, không có t liệu ghi chép cụ thể, mà nó nh hạt ma xuân giăng giăng, tạo nên “hơi ấm” cho mỗi người trong cuộc chiến tranh gian khổ và khốc liệt, vơn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Sống có Nghĩa tình của công nhân viên Bưu điện trong kháng chiến không chỉ đối với đồng chí đồng đội của mình mà còn đối với cán bộ, thương binh và nhân dân. Cho nên người Bưu điện còn cần phải có tình thương với người mà mình phục vụ, đa đón. Khi đa cán bộ qua vùng nguy hiểm, giao liên phải đi trước dò đường, với cán bộ đau yếu, thương binh, phải cáng, cõng, khi bị địch càn, giao liên đậy nắp hầm bí mật cho người khác rồi mới đi tìm chỗ tránh cho mình.

Khói lửa chiến tranh và sự mất mát to lớn có thể làm cho nét mặt mỗi người khô sạm lại, có khi không còn nước mắt để khóc thương. Nhưng ẩn chứa đằng sau đó là tình thương yêu con người vô hạn, từ tình yêu thương đời thường cho đến tình yêu nước thiêng liêng nhất.

Thực ra, sự hy sinh nào cũng đều là biểu hiện tình nghĩa, và các biểu hiện tình nghĩa sâu đậm đều đòi hỏi phải có sự hy sinh lợi ích riêng của mình. Sự hy sinh, không chỉ có mồ hôi xương máu, là những cái mà ta có thể tính đếm được, còn có những hy sinh thầm lặng, sâu kín, không thể đánh giá và bù đắp mà dư âm của nó vẫn còn mãi mãi về sau.

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, hàng trăm chị em giao liên đồng bằng Bắc Bộ hoạt động trong vùng địch hậu, không chỉ bị giặc bắt tra tấn đánh đập dã man, mà còn bị hãm hiếp gây bênh tật. Họ đã hy sinh cái quý giá nhất của đời người con gái và cả tuổi thanh xuân cho dân tộc và sự nghiệp của ngành Bưu điện. Nhiều chị em làm việc trên các đỉnh núi cao các trạm viba nhiều năm, đến khi trở về thì tuổi đã quá thì. Tuổi thanh xuân qua đi trong cuộc chiến tranh, nay không còn điều kiện để xây dựng tổ ấm. Nếu chúng ta đến thăm Nghĩa trang liệt sĩ Bưu điện tại Tây Ninh, đi từng ngôi mộ mà tính tuổi đời thi đa số đều hy sinh ở tuổi hai mươi. Họ hy sinh khi chưa biết đến vị ấm áp của tình yêu. Có đồng chí người Kinh hoạt động giao liên ở Tây Nguyên, đã “cà răng, căng tai” và ăn mặc như người dân tộc để che mắt địch như đồng chí Trần Dũng (Bảy Cao) một trong số 8 cán bộ trinh sát đặc công là người có kinh nghiệm công tác giao liên trong kháng chiến chống Pháp, thông thuộc địa hình Kon Tum được giao nghiệm vụ xây dựng cơ sở tăng cường cho Ban giao liên Nam Trung bộ.

V.3.2 Trong hoà bình, xây dựng đất nước

Sau các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước thắng lợi. Ngành Bưu điện Việt Nam đồng thời với việc tập trung khôi phục và phát triển mạng lưới thông tin, đã quan tâm công tác xây dựng, chăm lo cho con người. Hệ thống trường sở, bện viện, viện điều dưỡng, mạng lưới y tế cơ sở... được củng cố và phát triển. Ngành đã cử hàng ngàn công nhân viên kháng chiến đi học bổ túc văn hoá, kỹ thuật và nghiệp vụ. Trong đó chú trọng bổ túc văn hoá, kỹ thuật và nghiệp vụ cho CBCNV các tỉnh phía Nam. Hàng vạn CBCNV được khám chữa bệnh (nhất là các bệnh do chiến tranh để lại và bênh nghề); được điều dưỡng, nghỉ mát nâng cao sức khoẻ. Trong cuộc sống và trong công tác hàng ngày, mối quan hệ đồng chí, đồng đội được duy trì và ngày càng sâu sắc theo đặc điểm riêng có của ngành Bưu điện . Cán bộ công nhân viên giữa các tỉnh thường đi lại thăm viếng nhau, trao đổi và học tập kinh nghiệm lẫn nhau. Tỉnh này bị bão lụt hư hại thì không chờ yêu cầu của Ngành, các tỉnh bạn đã cử người và mang theo vật liệu đến giúp. Tỉnh nọ có kinh nghiệm “làm ăn” hay thì tỉnh kia cử đoàn cán bộ đến trao đổi học tập...làm tăng thêm mối đoàn kết, gắn bó, thương yêu nhau ngày càng bền chặt.

Đối với các liệt sĩ Bưu điện được Ngành chăm lo chu đáo thông qua việc xây dựng Nghĩa trang Liệt sĩ Bưu điện, các Đài tưởng niệm Liệt sĩ Bưu điện; tổ chức việc đi tìm hài cốt và quy tập phần mộ các liệt sĩ về nghĩa trang để ngày ngày CBCNV có điều kiện thăm viếng, Hương khói, thêm ấm lòng trong tình thương yêu của đồng đội.

V.3.3 Trong thời kỳ chuyển đổi cơ chế

Từ những năm cuối thập kỷ 80, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới và bắt đầu chuyển sang cơ chế thị trường. Ngành Bưu điện cũng đang chuẩn bị cho thời kỳ phát triển tăng tốc theo hướng số hoá và hiện đại hoá mạng lưới thông tin liên lạc. Nhưng cũng chính trong thời kỳ này, là những khó khăn gay gắt về đời sống xã hội của đất nước nói chung và của ngành nói riêng.

Nghị quyết Đại hội Công đoàn Bưu điện Việt Nam lần thứ 9 (năm 1988) cũng chỉ mới đề ra mức phấn đấu thu nhập bình quân cho mỗi người từ 30-50 kg gạo/tháng đối với khối sản xuất. Còn đối với các khối khác như công nghiệp, cung ứng vật tư... thì lại càng khó khăn hơn vì những mặt hàng truyền thống nay không còn nữa.

Về nhà ở, trước đây hàng năm Nhà nước vẫn cấp một số kinh phí xây dựng nhà ở ít ỏi, chủ yếu đầu tư cho công nhân viên ở thủ đô Hà Nội. Còn ở các tỉnh, phần lớn anh chị em ở trong các nhà cấp 4 đã xây từ lâu, nay đã cũ nát, hoặc nhà tranh vách đất. Công nhân viên phải tiết kiệm từ tiền lương ít ỏi của mình đẻ sửa chữa, hoặc làm nhà ở. Từ năm 1991, Nhà nước không cấp kinh phí xây dựng nhà ở và cũng không cho phép dùng vốn tự có để xây dựng nhà ở nên càng khó khăn hơn.

Thân nhân liệt sĩ Bưu điện cũng không ngoài hoàn cảnh đó. Có gia đình liệt sĩ Bưu điện, nhà tranh tồi tàn, con thất học, phải đi làm thuê làm mớn kiếm sống qua ngày.

Thực hiện Nghị quyết 176 của Chính phủ, ngành Bưu điện đã có gần 3000 công nhân viên nghỉ việc mà phần lớn là anh chị em đã tham gia kháng chiến chống Mỹ. Ngoài trợ cấp một lần của Nhà nước, Ngành, các cơ sở Bưu điện, công nhân viên ở lại làm việc đã góp thêm, nhằm giúp anh chị em có được một số vốn để tiếp tục làm ăn sinh sống. Nhưng do đồng tiền giảm giá và lãi suất tiết kiệm giảm nên anh chị em nói trên sống rất chật vật.

Nh vậy, một lần nữa, công nhân viên viên Bưu điện đứng trước ngưỡng thử thách mới không kém phần khác nghiệt: Làm sao để vợt qua tình trạng lạc hậu về mạng lưới thông tin liên lạc; làm sao để vợt qua cảnh nghèo đói và trọn vẹn nghĩa tình với thế hệ đi trước. Năm 1990, Công đoàn Bưu điện Việt Nam đa ra lời kêu gọi: “bứt khỏi đội hình tiến lên phía trước”.

Hưởng ứng lời kêu gọi đó cán bộ công nhân viên toàn Ngành đã hăng hái thi đua sản xuất kinh doanh, thực hiện chiến lược tăng tốc độ phát triển mạng lưới. Phát huy hiệu quả năng lực mạng lưới và vốn đầu t của Ngành, sau một kế hoạch trung hạn, không những mạng lưới thông tin được phát triển hiện đại, mà doanh thu cũng tăng nhanh. Nhờ đó đời sống của công nhân viên Bưu điện dần dần được cải thiện và lúc này mới có điều kiện để hình thành các chính sách xã hội ( nội bộ ) để thực hiện đền ơn đáp nghĩa. ở đây cúng cần nói rõ thêm là nếu có tiền đè vật chất mà cha có tấm lòng nhân ái, nghĩa tình thì các giải pháp xã hội cũng cha thể thành hiện thực được.

Việc đầu tiên thực hiện trên phạm vi toàn Ngành vào tháng 3/1992 là chính sách đối với thân nhân chủ yếu các liệt sĩ Bưu điện ; cán bộ Bưu điện nghỉ hu sống cô đơn ( văn bản số 867 / VP ). Để có kinh phí chi cho các chính sách ( nội bộ ) nói trên, CBCNV Bưu điện đã trích 3% tiền lương của mình lập Quỹ xã hội tập trung của Ngành.

Đến nay, sau hơn 7 năm thực hiện Quỹ xã hội, đã chi trợ cấp thường xuyên hàng tháng cho gần 400 thân nhận chủ yếu của liệt sĩ Bưu điện , gần 300 thương binh và cán bộ Bưu điện , 150 cán bộ hu trí sống cô đơn gặp khó khăn. Ngoài ra đã tặng hơn 1000 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho các đối Tượng chính sách gặp khó khăn.

Đối với bà mẹ Việt Nam Anh hùng có chồng, con hoặc bản thân là liệt sĩ Bưu điện, CBCNV trong Ngành đã nhận phụng dưỡng đến hết đời, 171 Mạ còn sống và thực hiện chính sách đối với 217 Mẹ đã qua đời. Nhận phụng dưỡng 233 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng có thân nhân ngoài ngành Bưu điện .

Trong mấy năm gần đây đã tặng gần 290 nhà tình nghĩa cho các đối Tượng gia đình chính sách.

Thực hiện chủ trương: “Đi tìm hài cốt đồng đội của ngành”, từ năm 1995 đến nay, nhiều cơ sở Bưu điện đã tổ chức tìm kiếm và qui tập hài cốt các liệt sĩ Bưu điện, cho đến nay (Trung tâm ĐTBCVT, tháng 11/1995 đã phối hợp cùng Bưu điện Thanh hoá đa hài cốt liệt sĩ Lu Thị Liễu về quê tại Thanh Hoá; tháng 1/1997 cùng Bưu điện Lạng Sơn tổ chức đa hài cốt liệt sĩ Đường Thị Hiện về Văn Lãng-Lạng Sơn. Cả hai đều là học viên lớp 68H, hy sinh năm 1972 tại Quản Ninh), chúng ta đã tìm được 465 hài cốt, đa về mai táng tại các Nghĩa trang liệt sĩ. Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Bưu điện là một trong số ít Ngành có nhiều liệt sĩ. Trong đó có những Bưu điện tỉnh có nhiều liệt sĩ như: Quảng nam, Bến Tre, Thừa Thiên-Huế, Vĩnh Long, Long An...

Với số liệt sĩ và đối Tượng hưởng chính sách nhiều như vậy ngoài cố gắng của từng đơn vị, cơ sở, thì các chính sách trong phạm vi toàn ngành với sự đóng góp của hơn 8 vạn CBCNV, nên việc thực hiện đạt được kết quả và thiết thực góp phần giảm bớt khó khăn trong cuộc sống của các gia đình chính sách, gây được ấn Tượng tốt đối với ngành Bưu điện. Dù rằng, sự hy sinh của thế hệ đi trước là rất to lớn và không thể đền đáp được, Nhưng các hoạt động tình nghĩa của thế hệ hông nay, bằng đồng tiền bát gạo được trích từ tiền lương của mỗi người là rất quý. Họ đã kế thừa lối sống có tình có nghĩa và đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta trong giai đoạn lịch sử mới,  nhất là trong tình hình kinh tế thị trường nhiều thứ đã trở thành hàng hoá và khi đồng tiền, quyền lợi cá nhân đã trở thành mục tiêu sống của không ít người, làm cho con người dễ quên đi tình nghĩa. Đối với CBCNV đã nghỉ hu, Ngành đã thành lập các ban liên lạc hưu trí tại tất cả các tỉnh, huyện, để định kỳ sinh hoạt, thăm hỏi, giúp đỡ lẫn nhau khi khó khăn, lúc đau ốm hoặc tiễn biệt nhau khi qua đời. Bằng nguồn quỹ xã hội nói trên, Ngành đã trợ cấp sửa chữa nhà ở cho gần 3000 cán bộ hu trí có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về nhà ở. Đối với từng người thì số tiền còn ít ỏi Nhưng với phạm vi toàn Ngành thì số tiền rất lớn. Tuy nhiên, dù ít dù nhiều đều là thể hiện tấm lòng nghĩa tình với lớp người đi trước của thế hệ hôm nay, thật đáng trân trọng.

Những hoạt động tình nghĩa đối với CBCNV đang làm việc cũng được quan tâm và tổ chức thực hiện trong mấy năm qua. Trong cuộc sống đời thường, trong các tổ, phòng, đội đã xuất hiện những hình thức thể hiện sự quan tâm lẫn nhau, như tổ chức mừng ngày sinh nhật, chúc mừng nhau khi gia đình có việc hỷ... thăm hỏi nhau khi ốm đau, khi gia đình có việc không may, hoặc cha mẹ qua đời. Từ đó tạo nên không khí thân tình gắn bó trong tập thể.

Một giải pháp xã hội lớn được triển khai thực hiện từ tháng 7/1991 đến nay là quỹ hỗ trợ nhà ở. Quỹ hỗ trợ nhà ở được tính bằng 5% quỹ tiền lương của toàn Ngành. Bằng quỹ hỗ trợ nhà ở, thu nhập cá nhân và vay mượn cùng với sự giúp đỡ của cơ quan đơn vị trong việc xin cấp đất làm nhà, đã giải quyết một phần khó khăn và từng bước cải thiện điều kiện nhà ở cho CBCNV trong Ngành.

Truyền thống nghĩa tình của dân tộc Việt nam đã trải qua 4000 năm lịch sử. Nó như gốc rễ cây đại thụ, bám sâu trong lòng đất Việt nam mà đam cành nở hoa. Bưu điện Việt Nam ra đời và phát triển hơn nửa thế kỷ qua trong thử thách của chiến tranh, như những cành cây, hoa lá được nuôi dưỡng từ gốc rễ của truyền thống dân tộc; đồng thời chính nó cũng làm cho truyền thống dân tộc ngày càng tốt đẹp hơn.

Tin tưởng rằng, mỗi thành viên trong ngành Bưu điện Việt nam hôm nay đều cảm nhận được điều họ đã nâng niu trân trọng truyền thống của Ngành; đồng thời phát huy truyền thống đó với lòng biết ơn, trân trọng các thế hệ đi trước; cũng nh noi gương lớp người đi trước để thực sự sống một cuộc sống có tình có nghĩa hôm nay. Họ sẽ vợt qua những khó khăn thử thách trong bước đường đi tới, chắc chắn họ sẽ tiếp tục phát huy truyền thống “Tình Nghĩa” của Ngành để ngày một tốt đẹp rực rỡ hơn.
Vi trí 1 Vị trí 2

VĂN HÓA VNPT

   

VNPT là doanh nghiệp có bề dày truyền thống gắn liền với lịch sử, truyền thống của ngành Bưu điện Việt Nam, một truyền thống hào hùng, vẻ vang được xây đắp nên bởi mồ hôi và cả xương máu của các thế hệ người Bưu điện và được đúc kết bởi 10 chữ Vàng “Trung thành - Dũng cảm - Tận tuỵ - Sáng tạo - Nghĩa tình”.

Với truyền thống ấy, ngành Bưu điện và VNPT đã làm nên kỳ tích tăng tốc phát triển, hiện đại hóa Bưu chính Viễn thông Việt Nam ngang tầm thế giới, được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận là ngành đi đầu trong sự nghiệp Đổi mới.

Trước những thách thức của cạnh tranh và hội nhập quốc tế, VNPT đã và đang nỗ lực vượt bậc để trở thành Tập đoàn kinh tế VT-CNTT và Truyền thông hàng đầu Việt Nam, có uy tín trên trường quốc tế, tiếp nối xứng đáng truyền thống vẻ vang của Ngành.

Nội lực nền tảng để thực hiện được những mục tiêu đó chính là Văn hóa VNPT – những giá trị đã được kết tinh từ năm 1945 đến nay và bây giờ tinh thần cốt lõi là “VNPT – Cuộc sống đích thực”, bao gồm tạo dựng con người VNPT đích thực, xây dựng môi trường VNPT đích thực, làm ra sản phẩm VNPT đích thực. Với mục tiêu và ý nghĩa đó, VNPT ban hành Sổ tay Văn hóa: “VNPT – Cuộc sống đích thực” để "Lãnh đạo tiên phong, trên dưới đồng lòng" vì "Mái nhà chung VNPT" phát triển nhanh, vượt trội, bền vững.

Địa chỉ liên kết