Truyền thống ngành Bưu Điện

TRUYỀN THỐNG SÁNG TẠO

Thứ Ba, 16/12/2003, 17:02

IV. Sáng tạo - Động lực cho sự phát triển và gợi nguồn cảm hứng làm đẹp cho đờiIV.1 Khái niệm:Sáng tạo là việc tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh thần hoặc tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào những cái đã có. Xét trên mặt náo đó thì chính sự phát triển cũng là một quá trình sáng tạo liên tục, biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.Đối với Ngành Bưu điện Việt Nam, sáng tạo đã trở thành một truyền thống. Truyền thống đó đã được định hình từ lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ và truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác tích luỹ, kế thừa dần mà có. Trong ngành Bưu điện, đề cập tới sáng tạo phải tính từ khởi nguồn, từ những sự lựa chọn sáng suốt đa đến những quyết định đúng đắn.

IV.2. Quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành là một quá trình sáng tạo

Sự sáng tạo từ những quyết định ban đầu, từ những đường liên lạc bí mật của Đảng được kế thừa và phát huy cao trong đội ngũ công ty Bưu điện khi đất nước bước vào cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp xâm lược.

Những đường dây giao liên chẳng những trải rộng khắp trong vùng ta mà còn phải luồn sâu vào trong đất địch, ở những vùng giáp ranh đó thường là những nơi ác liệt nhất. Người giao thông viên đi vào vùng địch mà mỗi chuyến đi là một lần luồn lách qua ranh giới giữa cái sống và cái chết, Nhưng có đủ mọi phương kế để vợt qua và đã hoàn thành nhiệm vụ, nên có thể coi là một kỳ tích của sự sáng tạo. Những chuyến đi sau này không còn chỉ một vài tài liệu có thể dấu lẫn trong đồ đạc mang theo người, không chỉ dẫn một vài cán bộ cải trang đi theo ... mà lượng hàng vận chuyển lên đến hàng tấn, đa dẫn đoàn cán bộ có khi tới hàng trăm người đi ngang trước bốt địch. Mặc dầu địch lập các vòng đai bảo vệ ngăn chặn, kiểm soát, Nhưng giao thông viên vẫn vận chuyển công văn, tài liệu, đa đón cán bộ, bộ đội, dân công... có chuyến đông tới 500, 600 người qua những vùng địch kiểm soát gắt gao nh đường số 1, số 5, số 6 ...qua sông Hồng, sông Luộc, sông Cầu, sông Đáy, dốc núi Ba Rền, U Bò, Liên U,... Đặc biệt với sự mu trí của lực lượng giao liên đã đa dẫn an toàn ch 2 vạn nhân dân Thủ đô còn bị kẹt sau đêm 19/12/1946 khi mở ra cuộc kháng chiến toàn quốc tại Hà Nội, ngay trước mũi súng quân thù.

Bảo đảm thông tin liên lạc ở hậu địch, chúng ta vẫn sử dụng lại một số thủ pháp để qua mắt chúng nh các hộp th, cách thức hẹn giờ... trước đây, Nhưng được sáng tạo vận dụng cho phù hợp với hoàn cảnh và tình hình mới. Công việc của người giao thông viên ở giai đoạn này không chỉ còn là những giải pháp tình thế, mà đi dần vào những sáng tạo, phải suy tính lâu dài và kiến thiết quy mô hơn. Nh việc đồng chí Nguyễn Hữu ích, Trưởng ty Giao liên, của đặc khu uỷ, đã bố trí một người đồng Hương với Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ địch, vào hàng ngũ chúng để tìm ra những quy ước mật mã trong các thẻ căn cước (nh chữ “i” không có dấu chấm tròn bên trên, hoặc lá tre vẽ trên thẻ cắt bớt một nét...) để rồi làm được hàng trăm thẻ căn cước giả cho cán bộ đi lại an toàn trong những năm 1946 ở Sài Gòn.

Mạng lưới thông tin điện thoại và vô tuyến điện trong thời kì này vẫn phát triển mạnh mẽ số đài VTĐ, số km đường dây điện thoại vẫn không ngừng tăng. Những máy vô tuyến điện tiện lợi tự lắp (loại máy phát chỉ dùng 1 hoặc 2 đèn điện tử) xuất hiện ở khắp nơi, nhất là ở Nam Bộ. Nhiều người tuy trình độ văn hoá không cao, Nhưng khi được đào tạo, phổ biến vẫn nhanh chóng lắp và tự điều chỉnh các máy này kịp phục vụ cho công tác.

Đài phát tín Bạch Mai (một đài phát lớn ở Đông Dương do thực dân Pháp xây dựng) bị phá sập hoàn toàn. Nhưng điều địch không thể ngờ được là đài bị phá lúc 20h15’ thì 06h sáng ngày hôm sau (20/12/1946 ) Đài Tiếng nói Việt Nam vẫn tiếp tục hoạt động...

 Ở miền Bắc và miền Trung, trong hoàn cảnh hết sức thiếu thốn nguyên vật liệu Nhưng thông tin điện thoại vẫn phát triển. Tại căn cứ địa Việt Bắc, hai khối cơ quan Đảng và Chính phủ vẫn có điện thoại để sử dụng, để có một mạng lưới nh vậy trong thời gian chiến tranh là một điều cực kỳ khó khăn, Nhưng cũng nh bao điều kỳ diệu khác trong kháng chiến chúng ta đã tạo nên.

Đặc biệt ở cơ xưởng Bưu điện Liên khu 4, thời gian này đã tự chế tạo hoàn chỉnh một máy điện thoại để bàn với toàn bộ chi tiết là tự tạo. Để làm được việc đó, cán bộ kỹ thuật của cơ xưởng đã phải mày mò và thực hiện thành công việc làm nam châm dùng trong ma-nhê-tô để phát chuông, gia công các bánh răng xe, làm vỏ máy và tổ hợp bằng gỗ mít ... điều đó chứng minh rằng khi cần thiết chúng ta cũng có thể làm ra máy điện thoại bằng những vật liệu sẵn có. Với bưu chính, hành trình từ Việt Bắc vào quân khu 5 khi đó là 40 ngày, về sau anh em đã phải cải tiến rút xuống còn 30 ngày, bảo đảm phục vụ nhanh chóng và kịp thời hơn. Đó là do sự linh hoạt, sáng tạo trong công việc hàng ngày của anh chị em chúng ta.

ở miền Nam, những người làm công tác thông tin liên lạc luôn phải đối đầu  với những tình huống cực kỳ phức tạp trước một kẻ địch mạnh và xảo quyệt. Chính vì thế sự chủ động sáng tạo khi giải quyết công việc ở tất cả các khâu, các cấp là một đòi hỏi hết sức cần thiết. Trong tình hình đó công tác giao liên thường xuyên phải có những sáng tạo để thiên biến vạn hoá các hoạt động, để đối phó với các thủ đoạn của địch. Một hình thức khá phổ biến để chuyển tin tức khi đó là dùng “Bạch chỉ”. Đây chỉ là cách viết lên giấy Nhưng không để lại dấu viết, bên nhận xử lý một cách thích hợp theo quy ước thì sẽ hiện ra chữ. Trong việc này có nhiều cách sáng tạo, nh sử dụng nước cơm viết lên khoảng trống giữa dòng chữ in của sách báo công khai. Nơi nhận chỉ việc lấy một loại thuốc sát trùng (hồi đó rất phổ biến) pha loãng bôi lên giấy và hơ nóng thì những chữ viết sẽ hiện lên.

Yêu cầu về sử dụng vô tuyến điện ngày càng nhiều. Các cơ xưởng VTĐ cũng dần được thành lập, tự lắp được các máy thu phát để cung cấp cho mặt trận. Đặc biệt những năm 1961-1962 nhiều nơi đã cải tiến máy thu thanh dân dụng bằng bán dẫn có độ nhạy cao thành các máy thu điện báo gọn nhẹ, ít tiêu hao năng lượng rất thuận tiện với các điều kiện chiến trường, đã chứng tỏ một khả năng tìm tòi sáng tạo hơn.

Tại Hà nội từ cuối năm 1956 đã tập trung xây dựng hệ thống điện thoại tự động. Sau hơn ba năm cải tạo mạng cáp ngầm khi Pháp rút lui đã tiêu huỷ hết hồ sơ, cũng nh xây lắp một tổng đài tự động lớn 3.000 số, để đa vào sử dụng đúng ngày 1/5/1960. Những công trình trên làm thay đổi hẳn năng lực của mạng lưới thông tin Thủ đô và miền Bắc.

Với lòng ham hỏi, cần cù, thông minh, giàu trí sáng tạo... những người cán bộ công nhân Bưu điện chẳng những tiếp thu được kỹ thuật mới, mà còn đề xuất được nhiều sáng kiến cải tạo góp phần thi công công trình được đúng thời hạn, được chuyên gia nước ngoài khen ngợi và khâm phục.Châu Văn Huy người cán bộ kỹ thuật năm xa đã tự chế tạo máy điện thoại, giờ đây lại có nhiều đóng góp có giá trị trong việc lắp đặt tổng đài và cài đặt mạng nội hạt của Thủ đô, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động (1960).

Trong thời kỳ dồn sức cho công cuộc phát triển kinh tế xây dựng quốc phòng ở miền Bắc, một vấn đề mấu chốt là phải tiến công mạnh mẽ vào khoa học kỹ thuật. Năm 1961, Ngành thành lập phòng nghiên cứu kỹ thuật để chuyên đề xuất các giải pháp kỹ thuật cũng nh quan lý và các hoạt động sáng tạo của Ngành. Năm 1962 Chính phủ quyết định giao nhiệm vụ cho Ngành quản lý cả kỹ thuật phát thanh và truyền thanh, nên phạm vi nghiên cứu ngày càng mở rộng. Từ đây, một vấn đề đặt ra là: muốn phát triển ở qui mô rộng lớn hơn thì các vấn đề kỹ thuật hệ thống, sự thống nhất quy tắc trong phát triển trở lên rất quan trọng. Việc xây dựng các quy trình, quy phạm làm cơ sở cho công tác thiết kế, quản lý bắt đầu được chú ý nhiều hơn.

Ngày 5/8/1964 đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc và ngày càng ác liệt. Tại tất cả các cơ sở của Ngành ở địa phương (khi đó làm cả hai chức năng Bưu điện và truyền thanh) đều phải xử lý một tình huống rất phức tạp. Một mặt vừa phải nhanh chóng sơ tán toàn bộ cơ sở vật chất-kỹ thuật cồng kềnh, phức tạp và đang hoạt động ổn định đến nơi an toàn, một mặt phải có ngay liên lạc cho các nơi cũ đến phút chót trước khi di chuyển. Đây là một bài toán hết sức nan giải được đặt ra cho tất cả mọi nơi, trong mọi lĩnh vực hoạt động, từ công việc của người lãnh đạo cao nhất đến một nhân viên bình thường. Với khẩu hiệu : “Tất cả cho đánh thắng giặc Mỹ”, ý trí quyết tâm và trí sáng tạo được nảy sinh. Có những việc mà trong điều kiện bình thường với đầy đủ phương tiện nhiều khi phải thực hiện hàng tháng, thì nay chỉ trong một vài ngày, thậm chí có khi chỉ trong một đêm đã thực hiện được.

Những sáng kiến trong thời kỳ này được thực hiện trong hai lĩnh vực là tổ chức thông tin và thay thế linh kiện, cải tiến mạch điện, thiết bị ... trong hoàn cảnh thiếu hoặc không cung cấp kịp thời linh kiện vật liệu. Riêng về khắc phục khó khăn, thiếu thốn nguyên vật liệu, đã có những giải pháp tuy thô sơ Nhưng mang lại hiệu quả lớn. Một ví dụ với mạng thông tin vô tuyến sóng ngắn, trong hoàn cảnh xảy ra chiến sự thì đây là mạng thông tin cơ động và tin cậy nhất. Nhưng một nhược điểm lớn của thiết bị lúc bấy giờ là phải hẹn giờ và dò tìm bắt liên lạc. Anh chị em ta đã có cách giải quyết là cố định tần số máy thu, làm thay đổi tần số đài phát nhỏ bằng một biện pháp cơ học. Máy phát chủ động quét trong một giải sóng để đảm bảo cho đài thu bắt được sóng. Biện pháp này đã giải quyết liên lạc kịp thời cho rất nhiều địa phương trong những hoàn cảnh cấp bách.

Trong vòng 3 năm (1966-1968), một hệ thống 9 cơ vụ tải ba, hàng chục đài thu phát vô tuyến được đa vào xây dựng trong các hang núi, chuyển dịch cải tạo lại 3349 km đường cột với 9.600 Km đôi dây vòng tránh khỏi những khu vực trọng điểm bị đánh phá của máy bay Mỹ, mà vẫn đảm bảo liên lạc thường xuyên là một sự cố gắng lớn. Tinh thần dũng cảm và sáng tạo trong bảo đảm thông tin liên lạc ở miền Bắc cũng nh ở miền Nam, đã góp phần xứng đáng đa cuộc kháng chiến của dân tộc ta tới mùa xuân Đại thắng năm1975.

Sau khi nước nhà thống nhất, ngành ta phải nhanh chóng thiết lập được một mạng lưới thông suốt trong toàn quốc. Đường thông tin phục vụ trên tuyến đường sắt thống nhất đường thông tin dây trần xuyên Việt từ Lạng sơn đến Mũi Cà Mau, các đường thông tin vi ba kết hợp nhiều loại thiết bị vừa do các nước XHCN chế tạo với các thiết bị thu được của địch sau chiến tranh. Việc hoà hợp các hệ thống tiêu chuẩn khác nhau trên mạng lưới ... thực là cả một cuộc vật lộn đầy sáng tạo Nhưng chúng ta đã thành công. Việc tổ chức truyền tin giữa Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh đạt được kết quả tốt. Mạng đường th trục chính, liên tỉnh, nội tỉnh được củng cố và mở rộng. mạng lưới bưu cục phát triển nhanh và ngày càng được củng cố nâng cấp... Những cố gắng vợt bậc đa lại thành công đó thật lớn lao, trong khi vốn đầu t của Nhà nước cho ngành Bưu điện trong những năm này mới chỉ trong khoảng 0,6 đến 0,7% ngân sách. Đồng thời duy trì cho một mạng lưới ở quy mô lớn Nhưng vốn đầu t nh vậy mà vẫn hoạt động tốt quả là điều kỳ lạ.

Từ sau Đại hội VI của Đảng, công cuộc đổi mới toàn diện ở đất nước ta được cải tiến một cách mạnh mẽ. Đây là một cơ hội Nhưng cũng là một thách thức đối với ngành Bưu điện. Bởi vì, thông tin phải là mối quan hệ cần được thiết lập đầu tiên mở ra các mối quan hệ khác. Nắm bắt, vận dụng kịp thời đường lối của Đảng, Ngành đã quy định hướng phát triển và các giải pháp của Ngành. Định hướng phát triển là : “ Đi thẳng vào hiện đại, bỏ qua khâu trung gian”. Các biện pháp cần phải tiến hành đồng thời là : Công nghệ, vốn và con người (trình độ đội ngũ lao động).

Về công nghệ : Tập trung vào công nghệ tiên tiến nhất, để sau 5,10,15 năm không bị lạc hậu.

Về vốn, từ hành lang cơ chế của Nhà nước, chúng ta huy động vốn ở nhiều nguồn, kể cả việc chọc thủng sự bao vây cấm vận của Mỹ. Thực hiện “lấy ngoài nuôi trong” u tiên đầu t có trọng điểm thu hồi vốn nhanh để đầu t tiếp nơi khác...

Về con người, Ngành và Công đoàn BĐVN phát động phong trào hoạt động nâng cao trình độ kỹ thuật, nghiệp vụ, quản lý, ngoại ngữ cho CBCNV. Để chính những con người, đội ngũ đó xây dựng, khai thác, vận hành và quản lý mạng thông tin hiện đại.

Định hướng và những giải pháp trên đây đã đa Ngành ta từ điểm xuất phát còn thấp, nay đã bứt lên phía trước đã đang hoà nhịp với sức phát triển bưu chính viễn thông khu vực cũng nh toàn cầu. Đó là sự sáng tạo riêng có của Bưu điện Việt Nam. Nh vậy, con đường mới đã mở ra ! Khi đã có công nghệ cao, có vốn và biết cách làm ăn đúng hướng thì vốn lại sinh vốn. Mạng viễn thông phát triển nhanh với nhiều dịch vụ phong phú. Mạng lưới điện thoại năm 1995 đã vợt khỏi con số 1 triệu. Số máy phát triển riêng trong năm này bằng tổng số máy phát triển của gần nửa thế kỷ trước cộng lại, Việt nam đến năm 1998 đang là nước có tốc độ phát triển điện thoại đứng thứ hai thế giới, điểm mới có ở Việt nam là máy điện thoại đã tới nhiều người dân, nhiều gia đình. Về sau này người ta chẳng những sử dụng điện thoại cố định mà còn sử dụng các phương tiện điện thoại di động, nhắn tin, th điện tử...thuận lợi. Bưu chính cũng đang được trang bị các phương tiện tiên tiến, sử dụng những thành tựu của kỹ thuật điện tử và tin học đã có những bước tiến mới. Nhiều dịch vụ mới về bưu chính và viễn thông được mở ra, phục vụ tốt đời sống văn hoá và trình độ dân trí ngày càng cao của xã hội.

Đó là kết quả của một chuỗi những giải pháp đầy sáng tạo, để thực hiện thành công việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế và tổ chức quản lý sản xuất từ bao cấp sang hạch toán kinh doanh với hiệu quả cao; về việc tự dịch chuyển cơ cấu của ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đa dạng hoá dịch vụ, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, khi nước ta bước vào kinh tế thị trường; xây dựng thành công bước đầu nền công nghiệp bưu chính viễn thông của nước ta và đường lối chính sách trong việc xây dựng và khai tốt mối quan hệ quốc tế. Đó cũng là kết quả việc thực hiện thành công 5 chương trình mục tiêu (về nâng cao năng lực và chất lượng thông tin; về đổi mới tổ chức quản lý, xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý mới; về phát triển công nghiệp thông tin; về bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân và chính sách xã hội) của Ngành. Rồi đây trước thử thách mới của chiến tranh và hội nhập, tin rằng với truyền thống sáng tạo vốn có, CBCNV Bưu điện sẽ có cách đi riêng của mình để bảo đảm thắng lợi cho Ngành, cho đất nước.

Sáng tạo là một đặc điểm của Ngành đã được hình thành ngay từ những ngày còn sơ khai. Đặc điểm của nó được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó là một điều tất yếu, vì xã hội cũng nh công nghệ luôn tiến bộ không ngừng. Nhưng có những cái luôn giữ vững giá trị của nó, đó là ý chí, lòng quyết tâm và trí sáng tạo, không chịu thúc thủ hoặc lùi bước trước khó khăn. Đội ngũ của những người làm công tác khoa học-kỹ thuật trẻ đầy năng động và thông minh, kết hợp với kinh nghiệm và sự từng trải cũng nh ý chí đã được rèn luyện của lớp người đi trước. Các thế hệ đi trước đã để lại cho lớp sau không chỉ là sự truyền thụ kinh nghiệm, mà điều chính là chuyển giao những phẩm chất đã được rèn luyện qua thực tế, trải qua thử thách, ngày càng được mài sắc và hoàn thiện. Các thế hệ đó đã bổ sung cho nhau, tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn Ngành.

Một đặc điểm của truyền thống sáng tạo Ngành, là sự sáng tạo được mở rộng phạm vi hoạt động ra nhiều lĩnh vực khác nhau. Từ những sáng tạo chỉ tập trung vào việc tìm ra các giải pháp ứng phó với địch, tới những sáng tạo trong kỹ thuật, trong quản lý... Trong những năm gần đây những hoạt động sáng tạo của ngành còn được mở rộng sang lĩnh vực khác, nh các hội thi nghề, những sáng tạo thơ ca, những chính sách xã hội, các hoạt động văn hoá-thể thao ... đã góp phần làm cho cuộc sống của chúng ta thêm phong phú, sinh động và nuôi dưỡng cho trí sáng tạo của từng thành viên trong Ngành được phát triển tốt đẹp. Bởi vì trong cuộc sống không những đổi thay, sự sáng tạo chính là kết quả của sự va chạm giữa t duy và thực tiễn, rồi chính từ đó nảy sinh ra cái mới, cái hay, cái đẹp. Đó cũng chính là một điều hết sức cân thiết cho sự đấu tranh để tồn tại, là thước đo về sự phát triển dù là của một cá nhân hay một tổ chức, một công đồng. Sáng tạo không những là nguồn động lực cho sự phát triển, mà còn là nguồn gợi cảm hứng và làm đẹp cho đời.

Là một Ngành có truyền thống sáng tạo, việc giữ gìn và phát huy truyền thống đó là trách nhiệm chung của thế hệ CBCNV Bưu điện Việt Nam chúng ta.
Vi trí 1 Vị trí 2

VĂN HÓA VNPT

   

VNPT là doanh nghiệp có bề dày truyền thống gắn liền với lịch sử, truyền thống của ngành Bưu điện Việt Nam, một truyền thống hào hùng, vẻ vang được xây đắp nên bởi mồ hôi và cả xương máu của các thế hệ người Bưu điện và được đúc kết bởi 10 chữ Vàng “Trung thành - Dũng cảm - Tận tuỵ - Sáng tạo - Nghĩa tình”.

Với truyền thống ấy, ngành Bưu điện và VNPT đã làm nên kỳ tích tăng tốc phát triển, hiện đại hóa Bưu chính Viễn thông Việt Nam ngang tầm thế giới, được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận là ngành đi đầu trong sự nghiệp Đổi mới.

Trước những thách thức của cạnh tranh và hội nhập quốc tế, VNPT đã và đang nỗ lực vượt bậc để trở thành Tập đoàn kinh tế VT-CNTT và Truyền thông hàng đầu Việt Nam, có uy tín trên trường quốc tế, tiếp nối xứng đáng truyền thống vẻ vang của Ngành.

Nội lực nền tảng để thực hiện được những mục tiêu đó chính là Văn hóa VNPT – những giá trị đã được kết tinh từ năm 1945 đến nay và bây giờ tinh thần cốt lõi là “VNPT – Cuộc sống đích thực”, bao gồm tạo dựng con người VNPT đích thực, xây dựng môi trường VNPT đích thực, làm ra sản phẩm VNPT đích thực. Với mục tiêu và ý nghĩa đó, VNPT ban hành Sổ tay Văn hóa: “VNPT – Cuộc sống đích thực” để "Lãnh đạo tiên phong, trên dưới đồng lòng" vì "Mái nhà chung VNPT" phát triển nhanh, vượt trội, bền vững.

Địa chỉ liên kết