Tổng Liên đoàn LĐVN

Báo cáo tháng 11 năm 2006 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

Thứ Sáu, 08/12/2006, 09:57

Báo cáo Số: 76/BC - TLĐ, ngày 29  tháng  11  năm 2006 1. Tham gia quản lý, chăm lo đời sống, đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp người lao động và một số hoạt động xã hội của các cấp công đoàn.Vấn đề tiền lương, tiền thưởng trong dịp cuối năm cho CNVCLĐ luôn được các cấp công đoàn quan tâm. Nhiều CĐCS đã chủ động nắm chắc tình hình quỹ tiền lương, tiền thưởng và các quy định cam kết trong TƯLĐTT để tham gia với người sử dụng lao động có kế hoạch trả lương, thưởng đầy đủ, kịp thời cho người lao động; tham gia cùng chuyên môn tạo thêm việc làm, góp phần tăng thu nhập chính đáng, tạo nguồn tiền thưởng cuối năm để động viên, khích lệ người lao động hoàn thành nhiệm vụ.

Tổng Liên đoàn phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức đối thoại với đại diện hơn 100 DN có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh nhằm chia sẻ những thuận lợi, khó khăn của DN trong quá trình đầu tư, đồng thời giải đáp một số quy định của pháp luật lao động liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của người lao động, DN. LĐLĐ Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo các cấp công đoàn tham gia với chủ sử dụng lao động xây dựng quy chế thưởng, kế hoạch và thời gian trả lương, trả thưởng cho người lao động trong dịp Tết Nguyên đán Đinh Hợi; phối hợp với các cơ quan liên quan tìm các giải pháp ngăn ngừa tranh chấp lao động và đình công; LĐLĐ Thành phố đã quyết định lập đường dây nóng để kịp thời tiếp nhận, giải đáp những bức xúc trong CNLĐ, góp phần ổn định quan hệ lao động, ổn định sản xuất; Bình Dương ban hành quy chế tạm thời về tổ chức công đoàn tham gia phòng ngừa và giải quyết tranh chấp lao động tập thể và đình công; kiểm tra tình hình thực hiện Bộ luật Lao động, Luật Công đoàn tại 5 DN, kiến nghị với chủ DN khắc phục ngay tình trạng vi phạm các quy định về HĐLĐ, trích nộp BHXH, BHYT… Quảng trị tổ chức kiểm tra việc thực thi Bộ Luật lao động tại 11 DN, trong đó có 2 DN đã thành lập CĐCS. Qua kiểm tra cho thấy, hầu hết các đơn vị vi phạm quy định của Bộ luật Lao động, đặc biệt tại các đơn vị xây dựng cơ bản, Đoàn kiểm tra đã kiến nghị với các cơ quan chức năng tăng cường công tác thanh tra lao động tại các doanh nghiệp, tích cực tuyên truyền phổ biến Bộ luật lao động cho người sử dụng lao động và người lao động; các cấp công đoàn cần tăng cường công tác phát triển đoàn viên và thành lập CĐCS bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người lao động; Hải Dương kiểm tra tình hình thực hiện pháp luật lao động tại 10 DN, kết quả: Mới chỉ có 78,4% số lao động được được ký HĐLĐ; 55,4% được tham gia BHXH; 3/10 DN tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động; 10/10 DN chưa tổ chức tập huấn về ATVSLĐ. 

Tổng Liên đoàn đã ban hành Quy chế về thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động Quỹ “Mái ấm công đoàn” nhằm hỗ trợ cho đoàn viên, CNVCLĐ nghèo khó khăn về nhà ở, bị thiên tai, hoả hoạn. Các cấp công đoàn cũng đã chủ động vận động CNVCLĐ đóng góp, ủng hộ xây dựng được hàng trăm ngôi nhà góp phần ổn định cuộc sống cho đoàn viên, CNVCLĐ có hoàn cảnh khó khăn như: LĐLĐ Quảng Ninh 13 nhà; Lai Châu 5 nhà; Đắk Lắc 2 nhà; CNVCLĐ Vĩnh Long đóng góp trên 248 triệu đồng; các cấp Công đoàn Bình Phước vận động CNVCLĐ trích một ngày lương tu sửa nhà ở cho 9 CNVCLĐ và xây mới 2 căn cho những CNVCLĐ có hoàn cảnh khó khăn… Các LĐLĐ tỉnh, thành phố tiếp tục phối hợp với các ngành chức năng duyệt và giải ngân từ các dự án vốn vay Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm. LĐLĐ Thành phố Hà Nội hoàn tất 30 dự án cho 300 hộ CNLĐ vay từ nguồn vay 3 tỷ đồng của Quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm do Thành phố phân bổ; Hà Giang giải ngân 1 dự án, với số tiền cho vay 50 triệu đồng, hỗ trợ việc làm cho 12 lao động.

Hưởng ứng tháng cao điểm “Vì người nghèo” (từ 17/10 đến 18/11/2006), LĐLĐ Yên Bái trao tặng 95 chiếc chăn bông, 95 chiếc áo khoác và hỗ trợ tiền ăn cho các cháu học sinh thuộc Trung tâm nuôi dưỡng giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với tổng số tiền là 14,5 triệu đồng. CNVCLĐ Cà Mau ủng hộ trên 170 triệu đồng; CNVCLĐ Tây Ninh gần 700 triệu đồng.

Trong tháng, cả nước xảy ra 8 cuộc đình công: Thành phố Hồ Chí Minh 6 cuộc, Quảng Nam và Cà Mau mỗi nơi 1 cuộc. Trong đó, 4 cuộc xảy ra ở doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (Hàn Quốc 2 cuộc, Hồng Kông 1 cuộc và Pháp 1 cuộc), 4 cuộc xảy ra ở khu vực NQD.

Nguyên nhân chủ yếu của các cuộc đình công là do quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người lao động bị vi phạm kéo dài không có sự giải thích rõ ràng hoặc không được giải quyết đầy đủ khi công nhân kiến nghị. Hầu hết nội dung yêu cầu của công nhân đưa ra là chính đáng, như yêu cầu giới sử dụng lao động giải quyết tình trạng: Nợ lương, nợ BHXH, không tăng lương cho người lao động theo quy định; khẩu phần ăn ca bị giảm; tăng ca liên tục trong thời gian dài, người lao động không còn thời gian để nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động; người quản lý DN đối xử hà khắc, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người lao động.

Khi xảy ra đình công, các cấp công đoàn đã chủ động phối hợp với chính quyền, cơ quan chức năng kịp thời xuống nắm tình hình và tham gia giải quyết yêu cầu người sử dụng lao động đảm bảo mọi chế độ cho người lao động theo đúng quy định của pháp luật; vận động CNLĐ trở lại làm việc, ổn định sản xuất.

2. Công tác tuyên truyền, giáo dục và tổ chức các phong trào thi đua trong CNVCLĐ.

Tổng Liên đoàn đã phối hợp với Liên hiệp quốc tế các Công đoàn tự do tổ chức hội nghị Mạng lưới Lao động khu vực Châu á- Thái Bình Dương (APLN) tại Hà Nội với mục tiêu “Hướng tới một cộng đồng APEC phát triển bền vững và đảm bảo các quyền của người lao động”, góp phần vào thành công chung của Việt Nam trong việc tổ chức Diễn đàn cao cấp APEC 2006. Thực hiện sự chỉ đạo của Tổng Liên đoàn, hầu hết các LĐLĐ tỉnh, thành phố, công đoàn ngành trung ương đã tổ chức tuyên truyền trong CNVCLĐ về quá trình Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và thành công của Hội nghị APEC lần thứ 14 tổ chức tại Thủ đô Hà Nội.

Kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, các cấp công đoàn đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực như: gặp mặt, trao đổi kinh nghiệm công tác giảng dạy, tọa đàm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là triển khai cuộc vận động “Nói không với tiêu cực và bệnh thành tích trong giáo dục”; thăm hỏi, tặng quà cho các trường học và giáo viên có hoàn cảnh khó khăn, vùng sâu, vùng xa; tổ chức hội diễn văn nghệ, thể thao, thi nữ công gia chánh… Tổng Liên đoàn đã tổ chức lễ trao giải thưởng “Tài năng sáng tạo nữ năm 2006” cho 1 tập thể và 3 cá nhân nhằm động viên nữ cán bộ, CNVCLĐ phấn đấu vươn lên trong cuộc sống, học tập, lao động sáng tạo, nghiên cứu khoa học.

Tổng Liên đoàn đã triển khai “Tháng chiến dịch truyền thông phòng chống AIDS đợt II/2006” với chủ đề “Giữ vững cam kết quyết tâm ngăn chặn AIDS”. Các cấp công đoàn cũng đã tập trung tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức và tác động đến việc thay đổi hành vi trong CNVCLĐ và các tầng lớp nhân dân về các biện pháp phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS; thăm hỏi, động viên các cán bộ y tế, CNVCLĐ đang trực tiếp làm công tác phòng chống AIDS, quan tâm, hỗ trợ người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS trong các cơ sở điều trị và cộng đồng. Nhiều LĐLĐ tỉnh, thành phố, công đoàn ngành TW đã tổ chức thi tìm hiểu “Pháp lệnh dân số, sức khỏe sinh sản và phòng, chống TNXH”; tham gia kiểm tra, rà soát tình hình CNVCLĐ nghiện ma túy, nhiễm HIV. LĐLĐ Thành phố Hà Nội tổ chức hội thảo xây dựng Chương trình phòng, chống ma tuý, phòng tránh nhiễm HIV/AIDS trong CNLĐ tại các DN. Lai Châu tập huấn cách phòng chống HIV/AIDS cho CNLĐ Công ty chè Than Uyên; Hà Tây tổ chức hội nghị “Truyền thông phòng, chống HIV/AIDS và chuyên đề dinh dưỡng với sức khoẻ CNVCLĐ”; Thái Bình tổ chức tuyên truyền cách phòng chống HIV/AIDS cho hơn 500 CNLĐ; Yên Bái phối hợp với Công an tỉnh tổ chức ký kết chương trình phối hợp hoạt động về “Phòng, chống ma tuý trong CNVCLĐ giai đoạn 2006-2010”…

Các cấp công đoàn đẩy mạnh các phong trào thi đua “Lao động giỏi”, “Lao động sáng tạo”, phát động các đợt thi đua đột kích trong CNVCLĐ, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kinh tế – xã hội năm 2006. Nhiều nơi đã đổi mới nội dung và hình thức thi đua cho phù hợp với tình hình thực tiễn của đơn vị, cơ sở gắn các nội dung thi đua vào nhiệm vụ cụ thể của từng tập thể, cá nhân; biểu dương khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích để tạo động lực thực sự cho các phong trào thi đua. LĐLĐ Quảng Ngãi phối hợp với Sở Khoa học công nghệ, Sở Công nghiệp, Liên minh các Hội khoa học kỹ thuật tỉnh và Tỉnh Đoàn tổ chức hội thi “Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Quảng Ngãi”; Thái Bình phát động hội thi “Chọn đôi bàn tay vàng nghề may toàn tỉnh năm 2006”. Công đoàn Nông nghiệp và PTNN Việt Nam chỉ đạo các cấp công đoàn vận động CNVCLĐ tích cực tham gia cùng với bà con nông dân phòng trừ dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi. Nhân dịp kỷ niệm 70 năm truyền thống Công nhân Vùng Mỏ, LĐLĐ Quảng Ninh đã tổ chức gặp mặt, biểu dương 70 CNLĐ điển hình xuất sắc trong phong trào thi đua lao động sản xuất 3 năm 2003-2006. CNVCLĐ Tây Ninh đăng ký hoàn thành 78 công trình thi đua với tổng trị giá trên 872 tỷ đồng.

3. Công tác phát triển đoàn viên, đào tạo cán bộ và xây dựng tổ chức Công đoàn.

Công tác phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS tiếp tục được đẩy mạnh. Công đoàn Công nghiệp Việt Nam tổ chức hội thảo “Phát triển công đoàn trong các DN nhỏ và vừa”. LĐLĐ Bình Dương thành lập 13 CĐCS, kết nạp 4.993 đoàn viên, giải thể 4 CĐCS, giảm 2.760 đoàn viên; Tiền Giang phát triển 5 CĐCS, kết nạp 146 đoàn viên; Hà Tây phát triển 8 CĐCS với 163 đoàn viên; Thái Bình thành lập 3 CĐCS NQD với 200 đoàn viên; Tây Ninh thành lập 8 CĐCS, kết nạp 1.084 đoàn viên; Nghệ An phát triển 8 CĐCS với 210 đoàn viên; Đăklăk thành lập 8 CĐCS với 101 đoàn viên; Long An phát triển 7 CĐCS NQD với 410 đoàn viên, các cấp công đoàn kết nạp mới từ các CĐCS 383 đoàn viên; Quảng Ninh thành lập 10 CĐCS, kết nạp 450 đoàn viên; Hải Dương thành lập 5 CĐCS, kết nạp 691 đoàn viên; Lạng Sơn thành lập 14 CĐCS, kết nạp 259 đoàn viên; Cần Thơ phát triển 789 đoàn viên…

Các LĐLĐ tỉnh, thành phố, Công đoàn ngành TW đã kiểm tra, phân loại CĐCS năm 2006. Qua khảo sát một số ngành, địa phương cho thấy, tỷ lệ CĐCS đạt tiêu chuẩn vững mạnh trở lên khá cao, có nơi tới 90-95%, chủ yếu tập trung ở doanh nghiệp nhà nước và cơ quan hành chính sự nghiệp, khu vực ngoài quốc doanh tỷ lệ thấp; việc chấm điểm, đánh giá phân loại nhiều nơi còn mang tính chung chung, hình thức chưa phản ánh đúng thực chất hoạt động công đoàn ở cơ sở.

Tổng Liên đoàn tổ chức tập huấn về công tác tài chính công đoàn cho cán bộ các LĐLĐ tỉnh, thành phố, công đoàn ngành trung ương. Viện KHKT- BHLĐ Tổng Liên đoàn phối hợp với Bộ Tài nguyên Môi trường tổ chức tập huấn về công tác ATVSLĐ và bảo vệ môi trường cho gần 100 cán bộ công đoàn xã, phường, thị trấn tại tỉnh Bình Phước. LĐLĐ Quảng Trị tập huấn công tác nữ công cho 120 cán bộ; Quảng Ngãi tổ chức tập huấn nghiệp vụ công tác công đoàn cho 135 cán bộ công đoàn tại các khu công nghiệp và Công đoàn ngành Nông nghiệp & PTNT. Để nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật cho đội ngũ cán bộ công đoàn các cấp, LĐLĐ Đồng Nai tổ chức lớp bồi dưỡng cho cán bộ CĐCS trong các loại hình DN về một số nội dung: Các quy định của pháp luật về tiền lương, tiền thưởng, trả thưởng tại DN; Luật BHXH; kỹ năng hoà giải và thương lượng ký kết TƯLĐTT; phương pháp giải quyết tranh chấp lao động tại DN; Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tập huấn kỹ năng nắm bắt dư luận xã hội và hàn gắn quan hệ lao động tại các DN cho 72 cán bộ chủ chốt công đoàn các cấp; Nghệ An  tổ chức tập huấn cho 98 cán bộ công đoàn về: Luật phòng chống tham nhũng, Luật bảo hiểm xã hội, Luật doanh nghiệp, Luật thực hành tiết kiệm và Luật khiếu nại tố cáo; Bạc Liêu tổ chức tập huấn Luật phòng, chống tham nhũng và Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cho cán bộ công đoàn chủ chốt các huyện, thị xã, công đoàn ngành và CĐCS trực thuộc.

Trong tháng, Tổng Liên đoàn đã tổ chức hội thảo lấy ý kiến tham gia vào “Định hướng nội dung Đại hội X Công đoàn Việt Nam” và nghe phản ánh tình hình CNVCLĐ, hoạt động công đoàn năm 2006. Tại các cuộc hội thảo, ý kiến các đại biểu cho rằng việc Tổng Liên đoàn khởi động để các cấp Công đoàn thảo luận những định hướng cho Đại hội X Công đoàn Việt Nam là tích cực và phù hợp với yêu cầu của phong trào CNVCLĐ và hoạt động công đoàn trong thời kỳ mới.

4. Một số tình hình về tổ chức và kết quả hoạt động CĐ cấp huyện

Đến năm 2006, toàn quốc đã có 668 công đoàn huyện với 2.131.569 đoàn viên (chiếm 39,23% tổng số đoàn viên cả nước) ở 60.635 CĐCS, nghiệp đoàn (chiếm 74,14% tổng số CĐCS, NĐ cả nước). Số lượng đoàn viên và CĐCS bình quân của một huyện là gần 3.200 đoàn viên và gần 90 CĐCS. Đoàn viên do công đoàn huyện trực tiếp quản lý ở các huyện vùng sâu, vùng xa, vùng núi chủ yếu là cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan hành chính sự nghiệp, phổ biến mỗi công đoàn huyện khoảng trên dưới 1.500 đoàn viên.

Trong những năm qua, hoạt động của công đoàn huyện đã thu được nhiều kết quả, góp phần ổn định quan hệ lao động, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, thể hiện nổi bật trên các mặt: Tổ chức tuyên truyền, giáo dục chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, pháp luật lao động; vận động CNVCLĐ tham gia các phong trào thi đua; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng CNVCLĐ trên địa bàn; tham gia giải quyết tranh chấp lao động và đình công; phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS, NĐ và là hạt nhân trong củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng hệ thống chính trị trên địa bàn huyện.

Công đoàn huyện là cấp quan trọng để cụ thể hoá Nghị quyết của Đảng, của công đoàn cấp trên, xây dựng chương trình, kế hoạch tuyên truyền, giáo dục với các nội dung phong phú và biện pháp phù hợp để xây dựng đội ngũ CNLĐ. Nhiều công đoàn huyện tổ chức phổ biến pháp luật lao động và tổ chức cho CNLĐ tham gia học văn hoá, học nghề, nâng cao trình độ cho người lao động. Hàng năm, căn cứ vào tình hình nhiệm vụ chính trị tại địa phương, công đoàn huyện tổ chức và vận động CNVCLĐ tham gia các phong trào thi đua, trong đó phong trào thi đua Lao động giỏi, lao động sáng tạo luôn được tập trung chỉ đạo phù hợp với từng địa bàn. Qua các phong trào thi đua đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu được các cấp chính quyền và công đoàn khen thưởng, tạo ra động lực quan trọng để ổn định phát triển cơ quan, đơn vị, DN và xã hội.

Thực hiện chức năng đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, công đoàn huyện đã tham gia các đoàn kiểm tra hoặc tự tổ chức kiểm tra các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trên địa bàn về việc thực hiện Bộ luật Lao động, Pháp lệnh Cán bộ công chức. Hàng năm, nhiều công đoàn huyện đã phối hợp với UBND huyện có văn bản chỉ đạo các cơ quan hành chính sự nghiệp và các DNNN mở đại hội CNVC và hội nghị CBCC; ký thoả ước lao động tập thể, thành lập hội đồng hoà giải cơ sở…; tham gia kiểm tra việc thực hiện các chế độ, chính sách đối với người lao động. Công đoàn huyện tham gia giải quyết tranh chấp lao động tập thể và đình công, thuyết phục chủ DN thương lượng, hoà giải và giải quyết các kiến nghị của CNLĐ. Một số công đoàn huyện được tập thể người lao động tin tưởng, nhờ đứng ra khởi kiện chủ DN tại Toà Lao động tỉnh, hoặc đại diện bảo vệ quyền lợi người lao động trước Toà. Nhiều công đoàn huyện đã thành lập được quỹ trợ  hỗ trợ việc làm, trợ vốn cho CNVCLĐ có hoàn cảnh khó khăn tại đơn vị và trên địa bàn, tạo điều kiện cho nhiều gia đình CNVCLĐ vượt qua khó khăn trong cuộc sống.

Tuy nhiên, hoạt động công đoàn huyện còn bộc lộ những hạn chế như: Còn bị động trong triển khai chương trình công tác, tham gia còn dàn trải, chưa thực sự tập trung vào những nhiệm vụ chính của công đoàn, chưa xác định được những nhiệm vụ trọng tâm trong từng giai đoạn; nhiều vấn đề giải quyết còn mang tính tình huống, hình thức, hiệu quả chưa cao; phong cách làm việc nhiều nơi còn nặng về tính hành chính, chưa thật sâu sát cơ sở, chưa thật sự nắm chắc tình hình, tâm tư, nguyện vọng và những bức xúc của đoàn viên và CNLĐ. Hoạt động của công đoàn huyện mới chỉ tập trung chủ yếu trong khu vực nhà nước, chưa quan tâm nhiều đến CĐCS khu vực NQD, DN có vốn đầu tư nước ngoài. Nhiều nơi cán bộ công đoàn huyện còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn nên còn lúng túng, bị động.

Từ thực tế trên, công đoàn huyện cần phải đổi mới hoạt động theo những nội dung: Sắp xếp lại nhiệm vụ công đoàn huyện và đưa vào qui định của Điều lệ (sửa đổi) Công đoàn Việt Nam trình Đại hội X quyết định, trong đó, lưu ý tập trung thực hiện chức năng đại diện bảo vệ quyền lợi người lao động; nâng cao năng lực đại diện của công đoàn cấp trên cơ sở để hướng dẫn, giúp đỡ đối với CĐCS và trực tiếp tổ chức phong trào trên địa bàn. Tranh thủ sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng và sự phối hợp của chính quyền đồng cấp nhằm vào các mục tiêu cải thiện việc làm, tiền lương, thu nhập, đời sống văn hoá tinh thần cho đoàn viên công đoàn và tham gia giải quyết tranh chấp lao động, đình công… xảy ra trên địa bàn. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng hoạt động, khả năng vận động và thuyết phục cho cán bộ CĐCS, NĐ, để thu hút đông đảo cán bộ, CNVCLĐ tích cực tham gia các hoạt động công đoàn. Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền theo hướng thiết thực, hiệu quả, phù hợp với từng đối tượng CĐCS, NĐ, đoàn viên và người lao động. Hướng mọi hoạt động về khu CN, khu tập trung công nhân lưu trú. Công đoàn huyện cần chủ động phối hợp chặt chẽ với trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm bồi dưỡng chính trị của huyện, các trung tâm đào tạo nghề, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, giám đốc các DN để tổ chức cho người lao động học văn hoá, học nghề, nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức kinh tế, pháp luật… Phối hợp tổ chức các phong trào thi đua yêu nước với những chủ đề, nội dung thiết thực thu hút đông đảo đoàn viên, người lao động tự nguyện tham gia, vì lợi ích thiết thân của người lao động, của DN và lợi ích Quốc gia.
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
Vi trí 1

VĂN HÓA VNPT

   

VNPT là doanh nghiệp có bề dày truyền thống gắn liền với lịch sử, truyền thống của ngành Bưu điện Việt Nam, một truyền thống hào hùng, vẻ vang được xây đắp nên bởi mồ hôi và cả xương máu của các thế hệ người Bưu điện và được đúc kết bởi 10 chữ Vàng “Trung thành - Dũng cảm - Tận tuỵ - Sáng tạo - Nghĩa tình”.

Với truyền thống ấy, ngành Bưu điện và VNPT đã làm nên kỳ tích tăng tốc phát triển, hiện đại hóa Bưu chính Viễn thông Việt Nam ngang tầm thế giới, được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận là ngành đi đầu trong sự nghiệp Đổi mới.

Trước những thách thức của cạnh tranh và hội nhập quốc tế, VNPT đã và đang nỗ lực vượt bậc để trở thành Tập đoàn kinh tế VT-CNTT và Truyền thông hàng đầu Việt Nam, có uy tín trên trường quốc tế, tiếp nối xứng đáng truyền thống vẻ vang của Ngành.

Nội lực nền tảng để thực hiện được những mục tiêu đó chính là Văn hóa VNPT – những giá trị đã được kết tinh từ năm 1945 đến nay và bây giờ tinh thần cốt lõi là “VNPT – Cuộc sống đích thực”, bao gồm tạo dựng con người VNPT đích thực, xây dựng môi trường VNPT đích thực, làm ra sản phẩm VNPT đích thực. Với mục tiêu và ý nghĩa đó, VNPT ban hành Sổ tay Văn hóa: “VNPT – Cuộc sống đích thực” để "Lãnh đạo tiên phong, trên dưới đồng lòng" vì "Mái nhà chung VNPT" phát triển nhanh, vượt trội, bền vững.

Địa chỉ liên kết