Tổng Liên đoàn LĐVN

Báo cáo Tháng 10 năm 2005 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

Thứ Ba, 01/11/2005, 14:24

Báo cáo Số: 59/BC–TLĐ, ngày 31 tháng 10 năm 2005 1. Một số tình hình CNVCLĐ.Từ đầu năm đến nay, tình trạng nợ đọng vốn xây dựng cơ bản rất lớn, lên đến hàng nghìn tỷ đồng, khiến nhiều DN xây dựng cơ bản không còn vốn duy trì sản xuất, không có tiền trả lương CNLĐ và trích nộp BHXH, làm cho đời sống, việc làm của CNLĐ gặp nhiều khó khăn. 9 tháng đầu năm, tổng nợ đọng vốn xây dựng cơ bản toàn ngành GTVT đã lên tới 1.946,1 tỷ đồng; các doanh nghiệp ngành GTVT nợ lương công nhân trên 54 tỉ đồng, nợ tiền BHXH, BHYT 30,5 tỷ đồng, khiến cho 3.166 trường hợp người lao động không được thanh toán các chế độ BHXH trong năm 2005 với tổng số tiền lên đến 1,2 tỷ đồng. Một số doanh nghiệp và đơn vị hành chính sự nghiệp tỉnh Quảng Nam nợ BHXH 6,5 tỉ đồng; Hà Tây một số DN và đơn vị nợ BHXH 25 tỷ đồng...

Tình hình TNLĐ vẫn liên tiếp xảy ra, đặc biệt trên các công trình đang thi công và khai thác than. Trong tháng, Quảng Ninh xảy ra 2 vụ TNLĐ tại các đơn vị sản xuất than làm chết 4 người. Hà Tĩnh xảy ra 1 vụ tai nạn sập hầm lò khai thác than làm 2 người chết, 1 người bị thương. Bà Rịa – Vũng Tàu xảy ra 1 vụ TNLĐ, làm chết 1 người. Đồng Nai 1 vụ, làm chết 1 người. Đa số người chết là công nhân trẻ ở độ tuổi từ 25 đến 30. Nguyên nhân chính để xảy ra TNLĐ, do chủ sử dụng lao động thiếu quan tâm cải thiện điều kiện làm việc, nhất là đảm bảo an toàn lao động, mặt khác, do ý thức tự giác chấp hành nội quy, quy chế làm việc của người lao động chưa cao, thiếu sự kiểm tra, giám sát thường xuyên của cơ quan thanh tra Nhà nước về an toàn lao động.

Trong tháng, cả nước xảy ra 9 cuộc đình công: Thành phố Hồ Chí Minh 3 cuộc, Bình Dương 2 cuộc, Hải Phòng, Bà Rịa – Vũng Tàu, Hà Nội và Phú Thọ mỗi nơi 1 cuộc. Trong đó, 5 cuộc xảy ra ở doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (Hàn Quốc 4 cuộc và Đài Loan 1 cuộc), 2 cuộc ở doanh nghiệp NQD và 2 cuộc ở doanh nghiệp nhà nước. Nguyên nhân chủ yếu của các cuộc đình công là do chủ sử dụng lao động nợ lương, chậm trả lương, giảm lương; không trả đầy đủ tiền làm thêm giờ, tiền thưởng, theo quy định của pháp luật lao động hoặc TƯLĐTT; kéo dài thời gian thử việc, không ký HĐLĐ; định mức lao động quá cao, người lao động thường xuyên phải làm thêm giờ mới hoàn thành được định mức; tăng ca liên tục trong thời gian dài, người lao động không còn thời gian để nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động.

Khi xảy ra đình công, tổ chức Công đoàn đã tích cực phối hợp với các cơ quan chức năng giải quyết, buộc người sử dụng lao động phải cam kết thực hiện các chế độ cho người lao động theo Luật Lao động và TƯLĐTT, động viên người lao động quay trở lại làm việc.

2. Công tác tuyên truyền, giáo dục và tổ chức các phong trào thi đua trong CNVCLĐ.

Nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong CNVCLĐ và hoạt động tư vấn pháp luật của công đoàn, nhiều LĐLĐ tỉnh, thành phố đã thành lập trung tâm (hoặc văn phòng) tư vấn pháp luật; chỉ đạo các cấp công đoàn thành lập tổ tư vấn pháp luật tại các công đoàn ngành và chuyên viên tư vấn pháp luật tại các DN; xây dựng tủ sách pháp luật ở công đoàn các cấp; tổ chức tập huấn cho cán bộ công đoàn làm công tác pháp luật. Đến nay, hệ thống công đoàn đã thành lập 7 trung tâm, 20 văn phòng và 74 tổ tư vấn pháp luật. Trong tháng, các trung tâm tư vấn pháp luật Công đoàn đã phối hợp với tổ tư vấn pháp luật các quận, huyện, ngành tổ chức tuyên truyền chế độ, chính sách liên quan đến CNLĐ; tư vấn CNLĐ về chế độ nghỉ việc theo Nghị định 41/CP của Chính  phủ. Tổng Liên đoàn đã phối hợp với ủy ban An toàn giao thông quốc gia tổ chức Hội thi “Lái xe mô tô an toàn” toàn quốc năm 2005, góp phần nâng cao ý thức chấp hành Luật giao thông cho CNVCLĐ.

Trước tình hình TNXH ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp, các cấp công đoàn đã tổ chức nhiều hoạt động truyền thông với hình thức đa dạng, phong phú như hỏi đáp, nói chuyện chuyên đề, phát tờ gấp, đưa công tác tuyên truyền xuống tận người lao động. Tổng Liên đoàn cùng Văn phòng thường trực phòng, chống ma túy – Bộ Công an tổ chức kiểm tra, đánh giá một số mô hình phòng chống ma túy hiệu quả trong CNVCLĐ tại các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang và Hà Giang. Qua kiểm tra cho thấy, có 123 CNVC nghiện ma túy; công đoàn đã chủ động phối hợp với Sở Công an, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Y tế tổ chức đưa các đối tượng nghiện hút đi cai, tạo việc làm sau cai… LĐLĐ Sóc Trăng tổ chức tuyên truyền cách phòng chống ma túy, HIV/AIDS cho 674 lượt CNVCLĐ. LĐLĐ Tây Ninh tổ chức sinh hoạt Câu lạc bộ CNVC với chủ đề “Phòng chống ma túy”. LĐLĐ Kiên Giang tổ chức thi tiểu phẩm về “Phòng chống nhiễm HIV/AIDS, thực hiện Chương trình Dân số  - Gia đình và Trẻ em, ATGT”. LĐLĐ Long An tuyên truyền phòng chống AIDS cho 200 CNLĐ huyện Đức Hòa và Thị xã Tân An. Công đoàn Thủy sản Việt Nam tổ chức tập huấn cách phòng chống HIV/AIDS cho CNLĐ Công ty Thủy sản và dịch vụ Khánh Hòa.

Công tác tuyên truyền, giáo dục trong nữ CNVCLĐ được các cấp công đoàn quan tâm. Đông đảo chị em được tuyên truyền và phổ biến chế độ chính sách đối với lao động nữ và trẻ em, pháp luật lao động, kiến thức về giới và gia đình. Chào mừng kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, các cấp công đoàn trong cả nước đã có nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao; mít tinh, gặp mặt, tọa đàm với chủ đề “Giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của Phụ nữ Việt Nam”, trao đổi kinh nghiệm công tác vận động nữ CNVCLĐ; tổ chức hội thi nữ công gia chánh, khám sức khỏe định kỳ; tặng quà, tuyên dương, khen thưởng những phụ nữ tiêu biểu trong lao động sản xuất và xây dựng gia đình hạnh phúc… đồng thời phát động phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, thu hút đông đảo nữ CNVCLĐ tham gia. Tổng Liên đoàn đã tổ chức trao Giải thưởng tài năng sáng tạo nữ năm 2005 cho 2 tập thể và 6 cá nhân với tổng số tiền thưởng là 15 triệu đồng. Cơ quan Tổng Liên đoàn tổ chức họp mặt cán bộ, công nhân viên nữ nhân dịp 20/10. Nhiều LĐLĐ tỉnh, thành phố, công đoàn ngành TW đã tổ chức tuyên truyền nâng cao kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản cho cán bộ, đoàn viên công đoàn; tổ chức thi tìm hiểu “Pháp lệnh dân số, sức khỏe sinh sản và phòng, chống TNXH”, “Luật Hôn nhân Gia đình và Pháp lệnh Dân số”; tổ chức hội thi “Ban nữ công giỏi”, “Cán bộ nữ công giỏi”, “Kỹ năng gia đình”; tổ chức tọa đàm về “Nâng cao trách nhiệm của tổ chức Công đoàn trong công tác truyền thông trực tiếp nhằm thay đổi hành vi về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho CNLĐ”, “Nâng cao chất lượng hoạt động Ban nữ công công đoàn các cấp”. LĐLĐ Cần Thơ phối hợp với Đài PTTH Thành phố thực hiện phóng sự về “Chính sách đối với lao động nữ”. Tổng Liên đoàn cũng đã hướng dẫn tổng kết 5 năm thực hiện Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ phụ nữ.

Các cấp công đoàn đẩy mạnh phong trào thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí gắn với thi đua lao động giỏi, lao động sáng tạo; phấn đấu hoàn thành toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2005, chào mừng đại hội Đảng các cấp. LĐLĐ Thành phố Hồ Chí Minh phát động phong trào “75 ngày thi đua hoàn thành vượt mức kế hoạch kinh tế – xã hội Thành phố năm 2005” với 2 nội dung chính: Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và thực hành tiết kiệm. LĐLĐ Quảng Ngãi tổ chức Hội thi “Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Quảng Ngãi năm 2004 - 2005”. Ngoài ra, nhiều LĐLĐ tỉnh, thành phố, công đoàn ngành TW đã tổ chức đăng ký, gắn biển các công trình tiêu biểu, như: Quảng Nam đăng ký 27 công trình với tổng số vốn hơn 400 tỷ đồng; Phú Thọ đăng ký 1 công trình với tổng giá trị đầu tư trên 32 tỷ đồng; Thành phố Hải Phòng gắn biển 3 công trình; Lâm Đồng gắn biển 1 công trình với tổng giá trị hơn 7 tỷ đồng; LĐLĐ Sơn La gắn biển 1 công trình; CNVCLĐ Hải Dương hoàn thành 72 công trình; CNVCLĐ Điện lực Việt Nam hoàn thành công trình xây dựng hệ thống đường dây tải điện 500 KV Bắc – Nam mạch 2. Tổng Liên đoàn cũng đã thành lập Ban chỉ đạo phong trào thi đua liên kết xây dựng Nhà máy thủy điện Sơn La.

3. Tham gia quản lý, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp người lao động và một số hoạt động xã hội của các cấp công đoàn.

Trước tình hình vi phạm pháp luật lao động ngày càng tăng, các LĐLĐ tỉnh, thành phố, công đoàn ngành TW đã chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách đối với người lao động, kịp thời phát hiện những sai phạm, kiến nghị cơ quan chức năng có biện pháp xử lý, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động và ổn định tình hình sản xuất, an ninh, trật tự địa phương. LĐLĐ Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra thực hiện Bộ luật Lao động tại Công ty TNHH giày Huê Phong, kiến nghị UBND Thành phố ra quyết định xử phạt Công ty trên 130 triệu đồng, buộc truy nộp hơn 5,2 tỷ đồng BHXH. LĐLĐ Bình Dương kiểm tra thực hiện Bộ luật Lao động tại 9 DN, phát hiện chỉ có 85% CNLĐ được ký HĐLĐ, các DN nợ đọng tiền BHXH hơn 4 tỷ đồng, 4/9 DN thu tiền BHXH, BHYT của người lao động nhưng không trích nộp về cơ quan BHXH tỉnh. LĐLĐ Tây Ninh kiểm tra việc thực hiện Bộ luật Lao động ở 8 DN tư nhân và 12 DN có vốn đầu tư nước ngoài. Qua kiểm tra cho thấy, hầu hết các DN được kiểm tra đều vi phạm các quy định về tiền lương, BHXH, BHLĐ, TƯLĐTT. Đoàn kiểm tra đã lập biên bản và đề nghị UBND tỉnh ra quyết định xử phát các DN vi phạm trên 220 triệu đồng. LĐLĐ Phú Thọ tham gia kiểm tra 15 DN, phát hiện các DN nợ đọng tiền BHXH trên 1 tỷ đồng. LĐLĐ Đồng Nai kiểm tra tình hình thực hiện Bộ luật Lao động tại 6 DN. Qua kiểm tra, đã phát hiện và yêu cầu các chủ sử dụng lao động phải thực hiện nghiêm các quy định về tiền lương, BHLĐ, HĐLĐ tại DN.

Ngày 13/10, Ban Thường vụ Công đoàn GTVT VN, Đường sắt VN, Tổng công ty Hàng không VN và Tổng công ty Hàng hải VN đã làm việc với Bộ GTVT và kiến nghị Bộ trưởng xem xét, giải quyết 7 vấn đề bức xúc của CNVCLĐ và Công đoàn Ngành GTVT năm 2005, đặc biệt là giải quyết tình trạng nợ lương, nợ BHXH.

Trong quá trình sắp xếp lại DNNN, công đoàn nhiều ngành, địa phương, cơ sở đã chủ động tham gia với cơ quan chức năng, doanh nghiệp lập phương án sắp xếp lao động; kiểm tra, giám sát việc phân loại lao động, bình xét, chi trả các khoản trợ cấp cho lao động dôi dư, kịp thời nắm bắt những phát sinh trong quá trình thực hiện, kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết những vướng mắc góp phần bảo vệ quyền lợi của người lao động… LĐLĐ Hà Giang cùng với Ban chỉ đạo sắp xếp, đổi mới DN của tỉnh hướng dẫn và duyệt phương án chuyển đổi 10 DN. LĐLĐ Thừa Thiên Huế tham gia sắp xếp chuyển đổi 19 DN. Nhìn chung, sau khi sắp xếp, các DN hoạt động hiệu quả, đời sống, việc làm của CNLĐ ổn định. Tuy nhiên, việc sắp xếp, chuyển đổi DNNN còn chậm. Qua khảo sát thực tế ở cơ sở và kiến nghị của nhiều LĐLĐ tỉnh, thành phố, công đoàn ngành TW, Tổng Liên đoàn đề nghị Chính phủ cho kéo dài thời gian thực hiện Nghị định 41/2002/NĐ-CP đến hết năm 2007.

Trong tháng, Tổng Liên đoàn đã xét duyệt cho vay vốn từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm 27 dự án, hỗ trợ tạo việc làm cho 480 người với số tiền gần 1,6 tỷ đồng. Các địa phương cũng tích cực khai thác các nguồn vốn để cho người lao động vay phát triển kinh tế gia đình, tăng thu nhập.

Trước tình hình dịch cúm gia cầm diễn biến phức tạp, có khả năng phát thành đại dịch, các cấp công đoàn và CNVCLĐ cả nước đã tích cực, chủ động tham gia công tác phòng chống cúm gia cầm tại địa phương.

Hưởng ứng lời kêu gọi của ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về vận động toàn dân ủng hộ đồng bào bị bão lũ, Tổng Liên đoàn đã xây dựng kế hoạch và chỉ đạo các cấp công đoàn chủ động đẩy mạnh phong trào quyên góp giúp đỡ nhân dân vùng bị thiên tai. Với tinh thần tương thân tương ái, CNVCLĐ nhiều nơi đã đóng góp ít nhất một ngày lương và nhiều vật dụng. CNVCLĐ Quảng Trị ủng hộ trên 200 triệu đồng; Bình Dương gần 600 triệu đồng; Đồng Tháp trên 400 triệu đồng; Bà Rịa – Vũng Tàu trên 650 triệu đồng; Phú Thọ trên 600 triệu đồng; Bắc Giang gần 500 triệu đồng; Điện lực Việt Nam trên 1 tỷ đồng; Lâm Đồng trên 400 triệu đồng; Thừa Thiên Huế gần 500 triệu đồng; Tổng công ty Cao su Việt Nam hơn 1,3 tỷ đồng; Tổng công ty Dầu Khí Việt Nam trên 1 tỷ đồng; Ngành GTVT trên 760 triệu đồng; Đồng Nai trên 430 triệu đồng; Ngân Hàng Việt Nam 950 triệu đồng; Thành phố Hồ Chí Minh gần 1,5 tỷ đồng. “Chương trình hỗ trợ đồng bào vùng lũ lụt” do Quỹ Tấm lòng vàng Báo Lao động phát động đã nhận được sự ủng hộ của nhiều cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân với tổng số tiền hơn 1,7 tỷ đồng. Công đoàn đã trực tiếp đến thăm hỏi, động viên nhiều gia đình CNVCLĐ bị thiệt hại. Thực hiện tháng cao điểm cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, CNVCLĐ Quảng Trị đóng góp gần 1 tỷ đồng, CNVCLĐ Bà Rịa – Vũng Tàu ủng hộ gần 3 tỷ đồng, CNVCLĐ Thành phố Cần Thơ ủng hộ hơn 1 tỷ đồng.

4. Công tác phát triển đoàn viên và đào tạo cán bộ.

Các cấp công đoàn đẩy mạnh công tác phát triển đoàn viên, xây dựng tổ chức CĐCS vững mạnh, nhất là khu vực kinh tế NQD.

Trong tháng, LĐLĐ Đak Nông thành lập 6 CĐCS, kết nạp 150 đoàn viên. LĐLĐ Bình Dương thành lập 28 CĐCS, kết nạp 3465 đoàn viên, giải thể 4 CĐCS, giảm 840 đoàn viên. LĐLĐ Trà Vinh phát triển 4 CĐCS, kết nạp 295 đoàn viên. LĐLĐ Quảng Ngãi phát triển 11 CĐCS xã, phường, thị trấn với 185 đoàn viên. LĐLĐ Bà Rịa – Vũng Tàu thành lập 2 CĐCS với 357 đoàn viên. LĐLĐ Tây Ninh thành lập 3 CĐCS, kết nạp 509 đoàn viên, giảm 422 đoàn viên do sắp xếp lại lao động trong các DN. LĐLĐ Cà Mau kết nạp 298 đoàn viên. LĐLĐ Hưng Yên phát triển 2 CĐCS NQD với 182 đoàn viên, kết nạp thêm 413 đoàn viên ở các đơn vị khác. LĐLĐ Quảng Ninh phát triển 22 CĐCS, kết nạp 449 đoàn viên, giải thể 4 CĐCS, giảm 103 đoàn viên. LĐLĐ Thành phố Cần Thơ thành lập 3 CĐCS, 2 NĐ với 283 đoàn viên. LĐLĐ Đồng Nai phát triển 18 CĐCS với 2165 đoàn viên. LĐLĐ Hải Dương phát triển 4 CĐCS NQD, kết nạp 323 đoàn viên. LĐLĐ Thành phố Hồ Chí Minh thành lập 39 CĐCS, kết nạp 2468 đoàn viên.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cán bộ được các cấp công đoàn thường xuyên thực hiện. Tổng Liên đoàn phối hợp với Công đoàn Thụy Điển tổ chức hội thảo “Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và hoạt động công đoàn”. LĐLĐ Quảng Trị tập huấn nghiệp vụ công tác công đoàn cho gần 200 cán bộ cơ sở các trường học huyện Vĩnh Linh. LĐLĐ Kiên Giang tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho 147 cán bộ chủ chốt CĐCS xã,  phường, thị trấn. LĐLĐ Phú Thọ tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho 150 cán bộ công đoàn mới trúng cử, tái cử. LĐLĐ Lạng Sơn tổ chức tập huấn nghiệp vụ công tác công đoàn cho 20 cán bộ khu vực kinh tế NQD. LĐLĐ Hà Tĩnh tập huấn nghiệp vụ cho 60 cán bộ CĐCS NQD. LĐLĐ Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Hội kế toán Thành phố tổ chức bồi dưỡng kiến thức cho 50 kế toán tài chính công đoàn các quận, huyện. Công đoàn Công nghiệp Việt Nam phối hợp với Viện FES (CHLB Đức) tổ chức hội thảo “Nâng cao năng lực hoạt động của tổ chức công đoàn tại các DNNN đã thực hiện chuyển đổi trong Bộ Công nghiệp”. Công đoàn Giáo dục Việt Nam tổ chức hội thảo “Giải pháp nâng cao hoạt động nữ công trong tình hình mới”.

 5. Kết quả công tác phát triển đoàn viên và xây dựng CĐCS vững mạnh 2000-2004.

Thực hiện Nghị quyết 3b ngày 21/9/1999 của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn LĐVN (khoá VIII) về đẩy mạnh phát triển đoàn viên và xây dựng CĐCS vững mạnh và chương trình phát triển 1 triệu đoàn viên do Đại hội IX CĐVN đề ra, các cấp công đoàn đã chủ động xây dựng các nội dung, chương trình, các thang bảng điểm cho phù hợp với đặc điểm của địa phương, ngành để chỉ đạo, hướng dẫn các CĐCS; chủ động phối hợp với các sở, ban, ngành nắm bắt tình hình phát triển doanh nghiệp và tình hình lao động để có kế hoạch phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS và xây dựng CĐCS vững mạnh.

Trong 5 năm (2000-2004) cả nước đã phát triển thêm được 1.457.423 đoàn viên và 19.344 CĐCS. Riêng 6 tháng đầu năm 2005 đã phát triển thêm được 143.247 đoàn viên và 4.722 CĐCS, nâng tổng số đến tháng 6/2005 cả nước có 5.245.592 đoàn viên và 76.678 CĐCS. Một số LĐLĐ tỉnh, thành phố trong những năm qua có tốc độ phát triển đoàn viên và thành lập tổ chức CĐCS khá mạnh như: LĐLĐ thành phố Hồ Chí Minh phát triển mới 174.216 đoàn viên và 1.657 CĐCS; LĐLĐ tỉnh Bình Dương 141.801 đoàn viên và 718 CĐCS; LĐLĐ tỉnh Đồng Nai 86.929 đoàn viên và 311 CĐCS…

Công tác xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh có nhiều tiến bộ. Tỷ lệ CĐCS đạt vững mạnh đều tăng trong 5 năm qua: năm 2000 đạt 69,2%, năm 2001 đạt 71,65%, năm 2002 đạt 73,96%, năm 2003 đạt 76%, năm 2004 đạt 78,47%. Hoạt động của CĐCS từng bước đổi mới nội dung cho phù hợp với đặc thù của cơ sở, làm tốt vai trò đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ, tích cực tham gia vào tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý và phân phối sản phẩm, phát huy dân chủ cơ sở, cùng với việc chăm lo đời sống tinh thần cho người lao động đã góp phần cải thiện quan hệ lao động, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc triển khai thực hiện Nghị quyết 3b và “Chương trình phát triển 1 triệu đoàn viên” vẫn còn những tồn tại như: Công tác phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS khu vực ngoài quốc doanh chưa theo kịp tốc độ phát triển của doanh nghiệp (số CĐCS được thành lập hiện nay mới đạt 33,6% trong tổng số các DN ngoài quốc doanh có đủ điều kiện phát triển đoàn viên và xây dựng tổ chức công đoàn). Tỷ lệ CĐCS ngoài quốc doanh đạt vững mạnh thấp, bình quân năm 2000 đạt 28%; năm 2001 đạt 31%; năm 2002 đạt 33%; năm 2003 đạt 35%; năm 2004 đạt 37%. Một số CĐCS chưa thực hiện tốt vai trò đại diện cho CNLĐ; hoạt động cầm chừng hoặc không hoạt động; phần lớn chỉ tập trung vào việc thăm hỏi, hiếu hỷ và các hoạt động xã hội; việc bảo vệ lợi ích hợp pháp cho CNLĐ là nhiệm vụ trung tâm của tổ chức công đoàn đạt hiệu quả thấp, chưa ngăn chặn được các hiện tượng vi phạm pháp luật lao động. Nhiều CĐCS chưa coi việc đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của CNLĐ là nội dung hoạt động cơ bản, nên chưa thực hiện tốt chức năng đại diện bảo vệ quyền, lợi ích của CNLĐ, chưa kịp thời nắm bắt những vấn đề bức xúc của công nhân để phối hợp với chính quyền và chuyên môn giải quyết nên chưa gắn kết và thu hút đoàn viên vào hoạt động công đoàn; việc tổ chức phong trào thi đua, đại hội CNVC, hội nghị CBCC và hoạt động của Ban thanh tra nhân dân còn hình thức; chưa chú ý tuyên truyền hoạt động công đoàn và giáo dục tác phong công nghiệp cho người lao động. Nhiều CĐCS còn buông lỏng xây dựng tổ chức công đoàn, sinh hoạt chủ yếu lồng ghép với sinh hoạt chuyên môn; chưa tổ chức bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ tổ, công đoàn bộ phận. Nhiều cán bộ CĐCS hiện nay tuy được người lao động tín nhiệm nhưng không muốn làm cán bộ công đoàn. Việc chấm điểm CĐCS vững mạnh chưa sát với thực tế…

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chương trình phát triển 1 triệu đoàn viên”, thành lập CĐCS và xây dựng CĐCS vững mạnh, Tổng Liên đoàn cần nghiên cứu ban hành qui định biên chế cán bộ chuyên trách đối với CĐCS có đông CNLĐ ở khu vực NQD; tiếp tục nghiên cứu tổng kết hoàn thiện mô hình tổ chức, nội dung phương thức hoạt động của các loại hình CĐCS; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn. Công đoàn cấp trên cơ sở phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý nhà nước điều tra khảo sát các loại hình doanh nghiệp để xây dựng kế hoạch phát triển đoàn viên và thành lập CĐCS, thu kinh phí công đoàn; giải quyết kịp thời những xung đột trong quan hệ lao động để hạn chế đình công; đẩy mạnh hoạt động tư vấn pháp luật cho người lao động; ưu tiên đầu tư cán bộ có năng lực và kinh phí cho công tác đào tạo cán bộ công đoàn; coi trọng công tác tuyên truyền kết nạp đoàn viên mới; quan tâm chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích người lao động thông qua thương lượng và tổ chức thực hiện tốt TƯLĐTT; tổ chức cho công đoàn bộ phận, tổ công đoàn đăng ký phấn đấu công đoàn bộ phận, tổ công đoàn vững mạnh.

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

VĂN HÓA VNPT

   

VNPT là doanh nghiệp có bề dày truyền thống gắn liền với lịch sử, truyền thống của ngành Bưu điện Việt Nam, một truyền thống hào hùng, vẻ vang được xây đắp nên bởi mồ hôi và cả xương máu của các thế hệ người Bưu điện và được đúc kết bởi 10 chữ Vàng “Trung thành - Dũng cảm - Tận tuỵ - Sáng tạo - Nghĩa tình”.

Với truyền thống ấy, ngành Bưu điện và VNPT đã làm nên kỳ tích tăng tốc phát triển, hiện đại hóa Bưu chính Viễn thông Việt Nam ngang tầm thế giới, được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận là ngành đi đầu trong sự nghiệp Đổi mới.

Trước những thách thức của cạnh tranh và hội nhập quốc tế, VNPT đã và đang nỗ lực vượt bậc để trở thành Tập đoàn kinh tế VT-CNTT và Truyền thông hàng đầu Việt Nam, có uy tín trên trường quốc tế, tiếp nối xứng đáng truyền thống vẻ vang của Ngành.

Nội lực nền tảng để thực hiện được những mục tiêu đó chính là Văn hóa VNPT – những giá trị đã được kết tinh từ năm 1945 đến nay và bây giờ tinh thần cốt lõi là “VNPT – Cuộc sống đích thực”, bao gồm tạo dựng con người VNPT đích thực, xây dựng môi trường VNPT đích thực, làm ra sản phẩm VNPT đích thực. Với mục tiêu và ý nghĩa đó, VNPT ban hành Sổ tay Văn hóa: “VNPT – Cuộc sống đích thực” để "Lãnh đạo tiên phong, trên dưới đồng lòng" vì "Mái nhà chung VNPT" phát triển nhanh, vượt trội, bền vững.

Địa chỉ liên kết