Tổng Liên đoàn LĐVN

Báo cáo tháng 8 năm 2005 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

Thứ Năm, 22/09/2005, 09:40

Báo cáo số 50/BC – TLĐ ngày 05 tháng  9  năm 2005 1. Công tác tuyên truyền, giáo dục và hoạt động chào mừng kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9Kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, chào mừng Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, các cấp công đoàn đã tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền, giáo dục về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc; tổ chức hội thi với nội dung tìm hiểu về Đảng và những thành tựu đổi mới của đất nước, học tập các chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh; phát động nhiều đợt thi đua lao động sản xuất gắn với các hoạt động văn nghệ, thể thao thu hút đông đảo CNVCLĐ tham gia; tổ chức gặp mặt cán bộ lão thành cách mạng, tham quan các di tích lịch sử, vận động CNVCLĐ tham gia góp ý kiến xây dựng văn kiện Đại hội Đảng các cấp.

LĐLĐ Quảng Ninh thực hiện chương trình “6000 CNLĐ trẻ được học 5 bài Chính trị cơ bản năm 2005”. Trong tháng, LĐLĐ Trà Vinh giới thiệu cho Đảng xem xét kết nạp được 34 Đảng viên, đồng thời chỉ đạo các cấp công đoàn tổ chức cho CNVCLĐ tham gia đóng góp ý kiến xây dựng Đảng. LĐLĐ Tiền Giang giới thiệu với Đảng bồi dưỡng 40 đoàn viên ưu tú, qua đó kết nạp 18 Đảng viên. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Công ty văn hóa thông tin Thăng Long phối hợp tổ chức chương trình nghệ thuật đặc biệt mang tên “Ta tự hào đi lên! Việt Nam”, tái hiện một phần lịch sử dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam; tổ chức trao giải cuộc thi “Vẽ tranh cổ động 60 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9”. Báo Lao động tổ chức triển lãm ảnh “Nắm bắt khoảnh khắc”.

Hơn 400 CNVCLĐ Tuyên Quang đã tham gia diễu hành tại Lễ kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 tại Quảng trường khu di tích lịch sử Tân Trào, huyện Sơn Dương. LĐLĐ Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức chương trình giao lưu “Người lính thầm lặng”, ngợi ca những chiến sĩ công an bảo vệ nơi làm việc của CNVCLĐ, nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày thành lập Công an nhân dân. Cuộc thi tìm hiểu “60 năm nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” đã thu hút đông đảo cán bộ, CNVCLĐ tham gia, nhiều bài có chất lượng cao, với nhiều ý kiến tâm huyết góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch vững mạnh. CNVCLĐ Hải Phòng đã hoàn thành 19 công trình, sản phẩm nhân dịp 2/9 với tổng giá trị 740 tỷ đồng. CNVCLĐ Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện 96 công trình thi đua. LĐLĐ Thành phố Hà Nội gắn biển 2 công trình với tổng trị giá đầu tư 20,6 tỷ đồng. LĐLĐ Hà Tây tổ chức gắn biển 2 công trình. LĐLĐ Hậu Giang phát động phong trào đăng ký thực hiện công trình, sản phẩm chào mừng Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, đến nay, đã có 3 công trình đăng ký với tổng trị giá 2,6 tỷ đồng, ước làm lợi 0,4 tỷ đồng.

Công đoàn Bưu điện Việt Nam tổ chức gắn biển 6 công trình. Công đoàn Điện lực Việt Nam phối hợp với Tổng công ty và các đơn vị trong ngành phát động phong trào thi đua tại công trình xây dựng Nhà máy thuỷ điện Sơn La và công trình xây dựng đường dây 500 kv mạch 2. Ban Công đoàn Quốc phòng chỉ đạo công đoàn các đơn vị vận động CNVCLĐ tham gia cuộc thi tìm hiểu với chủ đề Lính thợ trưởng thành cùng đất nước. Báo Lao động đã tổ chức vòng chung kết giải cầu lông CNVCLĐ tranh Cúp Báo Lao động 2005 với sự tham gia của 274 vận động viên thuộc 34 đơn vị, tạo không khí vui tươi phấn khởi trong CNVCLĐ. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã ban hành công văn hướng dẫn các cấp công đoàn triển khai phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” trong nữ CNVCLĐ (giai đoạn 2006 - 2010).

Tổng Liên đoàn đã tiến hành khảo sát công tác tuyên truyền, giáo dục tại một số LĐLĐ tỉnh, thành phố, Công đoàn ngành trung ương để chuẩn bị nội dung Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 của Ban chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khoá IX về “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục CNVCLĐ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH – HĐH đất nước”. Qua khảo sát cho thấy, các cấp công đoàn đã tổ chức được nhiều đợt tuyên truyền tới CNVCLĐ; vận động người lao động tham gia phong trào học tập nâng cao trình độ văn hoá tay nghề; gắn công tác tuyên truyền với phong trào thi đua lao động sản xuất… Tuy nhiên, việc tiếp cận để tuyên truyền chế độ, chính sách, pháp luật cho CNLĐ khu vực kinh tế NQD, người lao động làm việc phân tán, lưu động rất khó khăn; đội ngũ cán bộ tuyên giáo các cấp công đoàn thường biến động, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra.

2. Tham gia quản lý, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp người lao động và một số hoạt động xã hội của các cấp công đoàn.

Tổng Liên đoàn đã làm việc với Quỹ Lao động quốc tế Hàn Quốc về cơ hội hợp tác giữa hai bên trong việc tuyển dụng, đào tạo và đưa lao động Việt Nam sang làm việc tại Hàn Quốc. Trong tháng, Trung tâm Dịch vụ việc làm trực thuộc LĐLĐ An Giang đã giới thiệu việc làm cho 79 lao động sang làm việc tại một số nước trong khu vực. LĐLĐ Đồng Tháp giới thiệu 47 lao động và hướng nghiệp cho 146 lao động. Trung tâm Dịch vụ việc làm LĐLĐ Thành phố Cần Thơ giới thiệu 70 lao động có nguyện vọng đi làm việc tại Malaysia. Trung tâm dịch vụ việc làm LĐLĐ tỉnh Bình Định tổ chức đào tạo nghề, xuất khẩu lao động cho 326 người.

Tình hình vi phạm các quy định pháp luật lao động, đặc biệt là tình trạng nợ đọng BHXH có chiều hướng gia tăng, chỉ riêng trong 6 tháng đầu năm 2005 đã có 1684 đơn vị nợ với số tiền hơn 102 tỷ đồng, gây khó khăn trong việc thực hiện chế độ, chính sách cho người lao động, ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của CNLĐ. Nhiều LĐLĐ địa phương, công đoàn ngành đã phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách liên quan đến CNLĐ tại một số doanh nghiệp. LĐLĐ Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia cùng các cơ quan chức năng kiểm tra việc thực hiện pháp luật lao động tại 57 doanh nghiệp NQD và 4 DNNN. LĐLĐ Đắc Lắc phối hợp với Sở Lao động TBXH kiểm tra 5 DN ngoài quốc doanh. LĐLĐ tỉnh Đồng Tháp phối hợp với Sở Lao động Thương binh và Xã hội và Sở Y tế tổ chức kiểm tra chính sách lao động tại 20 đơn vị, bao gồm 4 doanh nghiệp nhà nước, 4 công ty cổ phần, 11 doanh nghiệp tư nhân. Qua kiểm tra cho thấy, có 8.150/20.051 lao động được ký kết HĐLĐ, đạt 40,6%; 6379 lao động được tham gia BHXH, đạt 31,81%; 4424 CNLĐ được huấn luyện ATVSLĐ; 5175 lao động được khám sức khoẻ định kỳ; 12/20 doanh nghiệp thực hiện ký kết TƯLĐTT; 15/20 doanh nghiệp thành lập Hội đồng BHLĐ, mạng lưới ATVSLĐ. Nhìn chung, tình trạng vi phạm các quy định về HĐLĐ, BHXH, BHYT… còn khá phổ biến, tập trung ở doanh nghiệp khu vực kinh tế NQD, DN có vốn đầu tư nước ngoài, DNNN đang khó khăn trong sản xuất kinh doanh, công đoàn và cơ quan chức năng đã yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật. Viện nghiên cứu KHKT Bảo hộ lao động cùng với Hiệp hội An toàn công nghiệp Hàn Quốc và LĐLĐ Đồng Nai tổ chức hội thảo về ATVSLĐ và bảo vệ môi trường trong các DN có vốn Hàn Quốc tại Việt Nam, nhằm đánh giá thực trạng tình hình tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ở Việt Nam trong thời gian qua và những giải pháp đảm bảo ATVSLĐ tại các doanh nghiệp Hàn Quốc.

Tổng Liên đoàn đã tổ chức 3 hội nghị lấy ý kiến tham gia xây dựng pháp lệnh đình công. Đa số ý kiến các đại biểu cho rằng hơn 900 cuộc đình công xảy ra từ năm 1995 đến nay đều không đúng trình tự theo quy định của pháp luật và nguyên nhân chủ yếu là do người sử dụng lao động vi phạm pháp luật về lao động, không đảm bảo quyền lợi hoặc có hành vi thô bạo đối với người lao động. Xuất phát từ tình hình trên, Tổng Liên đoàn đã kiến nghị cần phải ban hành Luật về đình công. Tổng Liên đoàn cũng đã tổ chức hội nghị lấy ý kiến tham gia dự thảo Luật Doanh nghiệp, Luật BHXH, Luật phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Bình đẳng giới và chỉ đạo các cấp công đoàn triển khai lấy ý kiến CNVCLĐ tham gia vào các dự luật.

Cuộc vận động “Toàn dân tham gia mua trái phiếu chính phủ đợt III – năm 2005” đã được đông đảo cán bộ, CNVCLĐ tham gia như: CNVCLĐ Bạc Liêu mua 4,5 tỷ đồng, CNVCLĐ Kon Tum hơn 2,3 tỷ đồng; CNVCLĐ An Giang mua 553 triệu đồng; CNVCLĐ Thành phố Cần Thơ mua hơn 800 triệu đồng; CNVCLĐ Bắc Giang mua trên 3,4 tỷ đồng. CNVCLĐ Lai Châu  mua hơn 4,3 tỷ đồng, đạt 108,9% kế hoạch.

Chuẩn bị năm học mới 2005-2006, nhiều LĐLĐ tỉnh, thành phố, công đoàn ngành TW và các đơn vị đã vận động CNVCLĐ tích cực ủng hộ xây dựng trường học, tặng quà, sách vở, đồ dùng học tập giúp đỡ con em CNVCLĐ có hoàn cảnh khó khăn. LĐLĐ Thành phố Hồ Chí Minh trao tặng 81 suất học bổng mang tên Nguyễn Đức Cảnh với tổng số tiền 74,9 triệu đồng. CNVCLĐ An Giang đóng góp, ủng hộ 285 xuất quà, gồm quần áo và một số đồ dùng học tập. LĐLĐ Bến Tre tổ chức tuyên dương 818 con CNVCLĐ là học sinh giỏi 5 năm liên tục với tổng số tiền 136.104.000 đồng. Ban cán sự Công đoàn Công an nhân dân phối hợp với Ban công tác Phụ nữ, Ban Thanh niên Công an tổ chức tổng kết công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và trao quà cho 290 cháu học sinh giỏi cấp tỉnh, thành phố. LĐLĐ Thái Bình tổ chức gặp mặt và tặng quà 80 học sinh giỏi quốc gia, học sinh nghèo vượt khó học giỏi. Đến nay, cuộc vận động hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng sâu, vùng xa của Công đoàn Giáo dục Việt Nam đã huy động được 124,4 tỉ đồng, xây dựng 1250 nhà công vụ.

3. Công tác phát triển đoàn viên và đào tạo cán bộ.

Thực hiện Chương trình phát triển 1 triệu đoàn viên do Nghị quyết Đại hội IX CĐVN đề ra, LĐLĐ các tỉnh, thành phố công đoàn ngành trung ương đã tích cực tuyên truyền, phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS mới, đặc biệt ở khối NQD. Tổng Liên đoàn phối hợp với Văn phòng giới chủ Việt Nam tổ chức tập huấn những vấn đề cơ bản của Bộ Luật Lao động, Luật Công đoàn, Điều lệ của CĐVN và phương thức hoạt động Công đoàn cho chủ doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hải Phòng. Phối hợp với Tổng Công đoàn Na Uy tổ chức hội thả o “Công tác phát triển đoàn viên, thành lập CĐCS”. LĐLĐ Điện Biên tổ chức phát 22.000 tờ gấp về phát triển đoàn viên và thành lập CĐCS  đến các DN khu vực ngoài quốc doanh.

Đến ngày 12/8/2005, cả nước đã kết nạp mới 662.712 đoàn viên, thành lập mới 10.548 CĐCS. So với thời điểm 31/12/2003, đến nay cả nước đã tăng thêm 576.090 đoàn viên và 9.708 CĐCS, đưa tổng số CĐCS cả nước lên 75.638 với 5.230.069 đoàn viên, hội viên.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cán bộ công đoàn được Tổng Liên đoàn và các cấp công đoàn thường xuyên thực hiện. Tổng Liên đoàn tổ chức tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 05 của Đoàn Chủ tịch về công tác thông tin báo cáo và tập huấn công tác văn phòng, công tác BHLĐ cho cán bộ công đoàn LĐLĐ các tỉnh, thành phố và công đoàn ngành trung ương; tập huấn công tác tổ chức cán bộ khu vực phía Bắc; phối hợp với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tập huấn về BHXH cho 30 cán bộ công đoàn khu vực miền Trung. LĐLĐ Cao Bằng tập huấn công tác nữ công cho 150 cán bộ cơ sở. Công đoàn GTVT tổ chức tập huấn về Vai trò của Công đoàn trong tiến trình cổ phần hoá và hoạt động công đoàn trong công ty cổ phần, công ty có vốn đầu tư nước ngoài. LĐLĐ Hà Tĩnh tổ chức tập huấn nghiệp vụ công tác công đoàn cho 235 Chủ tịch CĐCS xã, phường, thị trấn. Công đoàn Giáo dục Việt Nam tổ chức tập huấn nghiệp vụ công đoàn cho 200 cán bộ công đoàn khối đại học, cao đẳng và CĐCS trực thuộc. Công đoàn Thủy sản Việt Nam phối hợp với Vụ Pháp chế (Bộ Thuỷ sản) tổ chức tập huấn cho 50 cán bộ công đoàn về Luật Thuỷ sản và các văn bản hướng dẫn thi hành. LĐLĐ Bà Rịa – Vũng Tàu tổ chức tập huấn về phương pháp thương lượng, ký kết thoả ước lao động tập thể cho 36 cán bộ công đoàn các DN ngoài quốc doanh. LĐLĐ Bình Dương phối hợp với Ban Đối ngoại (Tổng Liên đoàn) tổ chức tập huấn về kỹ năng thương lượng, ký kết thoả ước lao động tập thể cho 30 đồng chí là Chủ tịch, Phó Chủ tịch CĐ ngành, LĐLĐ huyện, CĐCS trực thuộc.

4. Tình hình đình công từ năm 1995 đến tháng 8/2005

Tính chung từ năm 1995 đến hết tháng 8/2005, cả nước đã xảy ra 912 cuộc đình công.  Đình công xảy ra ở nhiều thành phần kinh tế và loại hình DN, tập trung ở các DN có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ 64,5% (589 cuộc), DN khu vực ngoài quốc doanh 26,9% (246 cuộc), DNNN 8,6% (77 cuộc). Riêng khu vực DN có vốn đầu tư nước ngoài, đình công xảy ra nhiều nhất tại các DN của Đài Loan (33,9%), tiếp đó là Hàn Quốc (29,7%), số còn lại thuộc các đối tác khác. Đình công xảy ra chủ yếu ở một số tỉnh phía Nam nơi có công nghiệp tập trung, đông CNLĐ như Thành phố Hồ Chí Minh xảy ra 417 cuộc (45,7%), Đồng Nai 172 cuộc (18,8%), Bình Dương 162 cuộc (17,7%). Đình công có xu hướng tăng (năm 1995 xảy ra 60 cuộc, năm 2004 là 125 cuộc) và thường xảy ra ở các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ như da giầy, dệt may, chế biến thực phẩm, gia công hàng xuất khẩu. Những năm trước đây, đình công tập trung chủ yếu vào thời điểm trước, sau Tết Nguyên đán và một số địa phương có công nghiệp tập trung, đông CNLĐ như thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai. Gần đây, đình công diễn ra ở nhiều tỉnh miền Bắc, miền Trung và vào mọi thời điểm trong năm. Cá biệt đã xảy ta tình trạng một số lao động quá khích kích động người lao động đình công gây mất trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng tới sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Hầu hết các cuộc đình công đều thuộc phạm vi quan hệ lao động và trong phạm vi doanh nghiệp, không vi phạm các qui định về cấm, hoãn hoặc ngừng đình công. Yêu sách của các cuộc đình công về cơ bản là hợp pháp, chính đáng; nội dung yêu sách chủ yếu là những yêu cầu về quyền, liên quan đến những vấn đề hợp đồng lao động, tiền lương, tiền thưởng, định mức lao động, BHXH, BHYT, làm thêm giờ, kỷ luật lao động, trang bị bảo hộ lao động… Tất cả các cuộc đình công xảy ra từ năm 1995 đến nay đều chưa thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo qui định của pháp luật; khi xảy ra đình công công đoàn và cơ quan quản lý nhà nước về lao động chủ động phối hợp giải quyết đều mang lại kết quả, phần lớn các yêu sách của tập thể người lao động đều được giới chủ đáp ứng ở những mức độ khác nhau. 

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đình công đều phát sinh từ sự vi phạm pháp luật lao động của người sử dụng lao động như: tự ý kéo dài thời gian thử việc, không ký HĐLĐ hoặc ký HĐLĐ ngắn hạn để trốn tránh một số nghĩa vụ theo pháp luật đối với người lao động (trốn tránh nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT); xây dựng đơn giá tiền lương quá thấp, định mức lao động quá cao; thanh toán không đầy đủ các chế độ: phụ cấp, làm thêm giờ, ngưng việc; nợ lương, chậm trả lương; tổ chức tăng ca, làm thêm giờ liên tục trái với qui định của pháp luật; đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật; sa thải người lao động không có lý do chính đáng; điều kiện làm việc không đảm bảo theo yêu cầu của pháp luật về vệ sinh an toàn lao động; thực hiện chế độ quản lý tuỳ tiện, hà khắc, trái qui định của pháp luật… Về phía người lao động do trình độ văn hoá thấp, ít được bồi dưỡng, trang bị kiến thức pháp luật về quyền và nghĩa vụ khi tham gia quan hệ lao động, nên dễ xảy ra mâu thuẫn trong quan hệ lao động, dẫn đến đình công; pháp luật qui định về đình công, giải quyết đình công hiện hành, nhất là trình tự, thủ tục nặng về bảo đảm cho yêu cầu của trật tự quản lý hơn là việc bảo đảm cho quyền đình công của người lao động được thực thi; các cơ quan quản lý nhà nước về lao động chưa quan tâm đúng mức việc theo dõi, thẩm định, xem xét các qui định về nội qui lao động, thoả ước lao động tập thể; hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm chưa thường xuyên, kịp thời, hình thức xử lý nặng về nhắc nhở nên chưa có tác dụng răn đe; năng lực của Toà án trong việc giải quyết các vụ án lao động còn nhiều hạn chế; trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tại Toà án còn phức tạp, chưa phù hợp với năng lực, hiểu biết pháp luật của người lao động; chất lượng xét xử các vụ án lao động chưa cao, nhiều vụ việc xử đi, xử lại nhiều lần; nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp khu vực ngoài quốc doanh chưa thành lập tổ chức Công đoàn, một số nơi có công đoàn cơ sở nhưng hoạt động kém hiệu quả, chưa thực sự là chỗ dựa tin cậy của người lao động.

Trước thực trạng tình hình đình công của người lao động và thực tế giải quyết đình công thời gian qua, Nhà nước cần khẩn trương hoàn thiện pháp luật về đình công, khắc phục những bất hợp lý của các quy định về quyền đình công của người lao động cũng như các quy định về việc giải quyết đình công của pháp luật hiện hành. Nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về lao động, đặc biệt là công tác kiểm soát, thẩm định, hướng dẫn thực hiện nội quy lao động, thoả ước lao động tập thể; thang lương, bảng lương; định mức lao động và các quy định nội bộ khác của doanh nghiệp; củng cố, kiện toàn tổ chức thanh tra lao động, xử lý các sai phạm một cách nghiêm minh nhằm hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật lao động rất phổ biến đang là nguyên nhân chính dẫn đến các cuộc đình công hiện nay; nâng cao chất lượng hoạt động của Tòa lao động trong việc giải quyết các tranh chấp về lao động; tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật lao động nói chung, pháp luật về đình công nói riêng cho người lao động và người sử dụng lao động, xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định tại doanh nghiệp, đơn vị cơ sở.

Văn phòng
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
Vi trí 1

VĂN HÓA VNPT

   

VNPT là doanh nghiệp có bề dày truyền thống gắn liền với lịch sử, truyền thống của ngành Bưu điện Việt Nam, một truyền thống hào hùng, vẻ vang được xây đắp nên bởi mồ hôi và cả xương máu của các thế hệ người Bưu điện và được đúc kết bởi 10 chữ Vàng “Trung thành - Dũng cảm - Tận tuỵ - Sáng tạo - Nghĩa tình”.

Với truyền thống ấy, ngành Bưu điện và VNPT đã làm nên kỳ tích tăng tốc phát triển, hiện đại hóa Bưu chính Viễn thông Việt Nam ngang tầm thế giới, được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận là ngành đi đầu trong sự nghiệp Đổi mới.

Trước những thách thức của cạnh tranh và hội nhập quốc tế, VNPT đã và đang nỗ lực vượt bậc để trở thành Tập đoàn kinh tế VT-CNTT và Truyền thông hàng đầu Việt Nam, có uy tín trên trường quốc tế, tiếp nối xứng đáng truyền thống vẻ vang của Ngành.

Nội lực nền tảng để thực hiện được những mục tiêu đó chính là Văn hóa VNPT – những giá trị đã được kết tinh từ năm 1945 đến nay và bây giờ tinh thần cốt lõi là “VNPT – Cuộc sống đích thực”, bao gồm tạo dựng con người VNPT đích thực, xây dựng môi trường VNPT đích thực, làm ra sản phẩm VNPT đích thực. Với mục tiêu và ý nghĩa đó, VNPT ban hành Sổ tay Văn hóa: “VNPT – Cuộc sống đích thực” để "Lãnh đạo tiên phong, trên dưới đồng lòng" vì "Mái nhà chung VNPT" phát triển nhanh, vượt trội, bền vững.

Địa chỉ liên kết

Cuộc thi "Tìm kiếm Công dân VNPT 4.0"