Tập đoàn BCVTVN

Tình hình chia tách Bưu chính Viễn thông và vấn đề đổi mới Bưu chính trong Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam

Thứ Hai, 03/04/2006, 18:09

Báo cáo tham luận của Ban Đề án Đổi mới Bưu chính -  Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam Tại Hội thảo Những thách thức đối với công nhân và Công đoàn ngành Bưu chính trong kỷ nguyên toàn cầu hoá do Công đoàn Bưu điện Việt Nam và Công đoàn Bưu chính Nhật Bản phối hợp tổ chức vào ngày 03/4/2006 tại Hà Nội.

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã chính thức công bố sự thành lập Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Đây là mốc rất quan trọng trong lịch sử phát triển của Ngành Bưu chính Viễn thông. Tập đoàn ra đời là sự đòi hỏi tất yếu của thực tiễn phát triển.

Tính tất yếu của việc chuyển đổi này là sự hội tụ của các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội như: sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam theo hướng mở cửa, hội nhập, tự do hoá thương mại...; các chủ trương thay đổi cơ cấu, hình thức, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước; xu hướng đổi mới bưu chính trên thế giới... cũng như các yếu tố chủ quan của bản thân doanh nghiệp.

Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy, hầu hết các nước đều thực hiện tách bưu chính, viễn thông. Việc chia tách này, trước hết, tạo điều kiện cho Viễn thông thực hiện tự do hoá thương mại, còn Bưu chính có điều kiện để cải cách, từng bước tiến tới cân bằng thu chi và có lãi. Việc cải cách Bưu chính ở mỗi nước một khác, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội riêng của mỗi nước. Đến nay, hầu hết các nước thành viên (189 nước) của UPU đã tách riêng bưu chính và viễn thông (còn khoảng 10% là chưa tách). Trong 36 quốc gia thuộc Châu Á Thái bình dương (với 19 nước đang phát triển, 14 nước chậm phát triển và 3 nước đã phát triển) thì có 17 nước chuyển đổi từ mô hình bưu chính nhà nước sang mô hình doanh nghiệp, trong số đó, có 13 nước sau khi chuyển đổi (từ 3-5 năm kể từ khi chuyển đổi) đã có lãi. Có 19 nước sau khi cải tổ vẫn giữ hình thức là Bưu chính nhà nước thì có 4 nước (sau 5 năm kể từ khi cải cách) đã có lãi (điển hình là Hàn Quốc và Trung Quốc).

Yếu tố chủ quan có thể kể đến một số điểm mấu chốt như sau: Trong thời gian qua, với cơ chế quản lý tập trung VNPT đã tập hợp được các nguồn lực, tạo điều kiện hỗ trợ cho khối bưu chính, phát triển mạng bưu cục, điểm phục vụ, mạng khai thác, vận chuyển, đáp ứng nhu cầu trao đổi thư tín, bưu gửi của nhân dân, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, đảm bảo phục vụ sự chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, phát triển kinh doanh các dịch vụ bưu chính, các dịch vụ kinh doanh khác nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng mạng, tăng doanh thu, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả hoạt động, góp phần phát triển nền kinh tế quốc dân. Điều này đặc biệt quan trọng khi khối bưu chính chưa tự cân bằng thu chi, các dịch vụ truyền thống phát triển chậm, có xu hướng giảm dần, phần lớn các dịch vụ mới đang trong giai đoạn đầu phát triển. Tuy nhiên, đến nay cách tổ chức và cơ chế hiện hành đã bộc lộ những nhược điểm gây cản trở phát triển sản xuất cho cả bưu chính và viễn thông, trong đó rõ nét nhất là:

 (1) Việc tổ chức thực hiện chung hoạt động bưu chính và viễn thông không còn phù hợp, do tạo ra sự bù chéo từ viễn thông sang bưu chính khiến khối bưu chính được hưởng bao cấp, có tư tưởng ỷ lại, chưa tạo được động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động; (2) Các hoạt động bưu chính chưa được quan tâm phát triển đúng mức, do hầu hết các hoạt động của VNPT phải tập trung vào hoạt động kinh doanh viễn thông để VNPT có thể đứng vững và phát triển trong thị trường viễn thông ngày càng cạnh tranh gay gắt; (3) Mô hình tổ chức quản lý theo tổ chức hành chính nặng về phục vụ, chưa định hướng theo kinh doanh, có nhiều cấp trung gian, chi phí lớn; (4) Cơ chế hạch toán chung giữa các dịch vụ, nhất là hoạt động kinh doanh và hoạt động công ích tồn tại đan xen, chưa tách bạch dẫn đến khó khăn trong việc tính toán giá thành, đánh giá hiệu quả kinh doanh các dịch vụ; (5) Khối bưu chính phải đối mặt với các tồn tại về trình độ quản lý và kỹ năng kinh doanh còn thiếu; trang thiết bị tuy đã được đầu tư nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của kinh doanh; tự động hoá và tin học hoá còn ít; chất lượng dịch vụ và phục vụ còn thấp so với các nước, chưa đáp ứng được yêu cầu của khách hàng, đặc biệt là đối tượng khách hàng doanh nghiệp; duy trì trong nhiều năm giá cước thấp, trong khi giá cả thị trường tăng mạnh...

Chính vì vậy, việc tiến hành đổi mới nhằm tăng sức cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là hết sức cần thiết.

Một vấn đề mang tính cốt lõi trong việc đổi mới này là việc chuyển cơ chế quản lý kinh tế (làm giảm tính bao cấp), từ một pháp nhân hạch toán tập trung quy mô lớn (với hơn 90.000 lao động, tổng tài sản lên đến hàng mấy chục ngàn tỷ đồng) chia thành nhiều pháp nhân nhỏ hơn hạch toán độc lập, cụ thể là Công ty mẹ- Tập đoàn BCVT VN, Tổng công ty Bưu chính Việt Nam và các Tổng công ty Viễn thông vùng. Các pháp nhân mới hạch toán độc lập sẽ tạo ra sự năng động, linh hoạt. Sự biến đổi về chất này đòi hỏi cả tập thể VNPT phải hết sức cố gắng, nỗ lực và sáng tạo mới có thể đáp ứng được các yêu cầu mới đầy thách thức. Một trong những công việc vô cùng khó khăn, phức tạp trong quá trình chuyển đổi chính là việc chia tách bưu chính viễn thông.

Tiên đoán được tính phức tạp và mức độ quan trọng của việc tách bưu chính viễn thông, các nhà quản lý VNPT đã có những bước chuẩn bị rất kỹ lưỡng cho việc chuyển đổi to lớn này.

 Ngay từ năm 2000, VNPT đã có chủ trương xây dựng phương án đổi mới tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh theo hướng tách bưu chính viễn thông. Quan trọng nhất là Phương án đổi mới quản lý, khai thác, kinh doanh bưu chính viễn thông trên địa bàn tỉnh, thành phố được tiến hành theo 3 đợt như sau:

- Đợt 1 từ ngày 01/10/2001: triển khai thực hiện phương án thí điểm  trên 10 tỉnh, thành phố;

- Đợt 2 : triển khai thực hiện trên 47 tỉnh, thành phố (thống nhất lấy ngày 15/8/2002 làm mốc triển khai phương án đổi mới);

- Đợt 3 từ ngày 01/01/2003: triển khai thực hiện phương án trên 4 thành phố lớn (Hà nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng).

Như vậy, việc chuẩn bị đã được tiến hành chu đáo từng bước. Sau mỗi bước VNPT đều có đánh giá, rút kinh nghiệm cho bước triển khai tiếp theo. Tuy nhiên, sau hơn 2 năm thực hiện, phương án chuẩn bị này mới thực hiện tách tài sản của Bưu chính và Viễn thông ở cấp huyện.

Đến thời điểm này, khi chính thức triển khai chia tách bưu chính viễn thông một cách toàn diện trên toàn quốc, các tồn tại, khó khăn đã bộc lộ trong quá trình triển khai thí điểm là những sở cứ, những kinh nghiệm rất quý báu cho các nhà quản lý VNPT đưa ra các quyết định quan trọng liên quan tới các vấn đề mấu chốt như:

- Thực hiện hạch toán rõ các dịch vụ, phân tách công ích và kinh doanh;

- Thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, nhất là khối bưu chính;

- Ổn định tư tưởng cán bộ công nhân viên (một số đơn vị còn lúng túng trong khâu luân chuyển cán bộ do họ chưa có tư tưởng yên tâm công tác);

- Việc phân chia tài sản và xử lý lao động sao cho hợp lý để đảm bảo lợi ích của người lao động, đảm bảo tính hiệu quả cho cả 2 lĩnh vực bưu chính và viễn thông.

Lĩnh vực bưu chính sau khi tách sẽ được tổ chức thành pháp nhân độc lập dưới hình thức Tổng công ty Bưu chính Việt Nam. Tổng công ty Bưu chính Việt Nam là Tổng công ty do Nhà nước quyết định thành lập và giao vốn thông qua Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, là thành viên trong Tập đoàn, kinh doanh đa ngành, trong đó bưu chính là ngành kinh doanh chính; bảo đảm cung cấp các dịch vụ bưu chính công cộng theo quy định của Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông và các nhiệm vụ bưu chính công ích khác do Nhà nước giao.

Chức năng, nhiệm vụ cơ bản của Tổng công ty bao gồm: thiết lập, quản lý, khai thác và phát triển mạng bưu chính công cộng theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt để cung cấp các dịch vụ trong và ngoài nước; cung cấp các dịch vụ bưu chính công ích theo quy hoạch, kế hoạch phát triển bưu chính của Nhà nước và những nhiệm vụ công ích khác theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; đầu tư vốn vào các doanh nghiệp khác theo chiến lược phát triển của toàn Tập đoàn, của Tổng công ty và thực hiện các quyền đại diện của chủ sở hữu phần vốn góp tại các doanh nghiệp đó; tư vấn, nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong lĩnh vực bưu chính.

 Như vậy, Tổng công ty được thành lập trên cơ sở kế thừa cơ sở vật chất, các nguồn lực, các hoạt động hiện có của VNPT trong lĩnh vực bưu chính, phải thực hiện cùng một lúc rất nhiều công việc như: tách hoàn toàn bưu chính viễn thông, thành lập Tổng công ty, ổn định tổ chức sản xuất kinh doanh, cải tiến, xây dựng mới, sắp xếp lại tổ chức phù hợp với môi trường kinh doanh hiện tại, khắc phục các tồn tại hiện có và tạo các điều kiện chuẩn bị cho giai đoạn cải tiến tiếp theo.

Mục tiêu tổng quát của Tổng công ty Bưu chính Việt Nam giai đoạn 2006- 2010 là: đáp ứng tốt yêu cầu của Nhà nước về cung cấp dịch vụ bưu chính công ích và các nhiệm vụ công ích khác; được Nhà nước hỗ trợ theo các quy định hiện hành; ổn định đời sống cán bộ công nhân viên; tranh thủ đầu tư cho sản xuất nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và phát triển dịch vụ mới; đảm bảo để Tổng công ty Bưu chính Việt Nam tự trang trải phần kinh doanh, trong đó, kinh doanh bưu chính giảm dần lỗ và tiến tới thăng bằng thu chi vào cuối giai đoạn 2010.

Để đạt được mục tiêu đề ra, Tổng công ty Bưu chính khi ra đời phải triển khai việc tổ chức, sắp xếp lại quy trình khai thác bưu chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, đồng thời tiến hành nhiều giải pháp phát triển kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng bưu chính công cộng:

   1) Hợp lý hoá tổ chức quản lý và sản xuất kinh doanh: xây dựng, quản lý và khai thác mạng bưu chính công cộng thống nhất trên toàn quốc đảm bảo số điểm phục vụ theo quy định của Nhà nước tăng cường sử dụng hình thức đại lý, điểm phục vụ di động, điểm phục vụ thời vụ một cách linh hoạt để giảm chi phí mạng; tối ưu hoá mạng đường vận chuyển; khai thác tốt phương tiện hiện có kết hợp với việc tận dụng tối đa phương tiện xã hội để vận chuyển; tổ chức, sắp xếp lại các đơn vị thành viên theo hướng hợp lý, gọn nhẹ, giảm bớt các khâu trung gian; chuyển đổi hình thức hoạt động của một số đơn vị thành viên.

 Tổ chức các công ty chủ dịch vụ trên phạm vi toàn quốc, với mục đích để tất cả các dịch vụ có đơn vị quản lý, phát triển từ khâu đầu đến khâu cuối , nhất là việc phát triển dịch vụ, chăm sóc khách hàng, tính hiệu quả dịch vụ và hướng đầu tư mang tính trọng điểm.

Chuẩn bị các điều kiện thành lập Ngân hàng Bưu điện nhằm đa dạng hoá việc cung cấp dịch vụ, tận dụng cơ sở vật chất của mạng bưu chính công cộng, góp phần chia sẻ một phần chi phí mạng và giảm gánh nặng hỗ trợ của Nhà nước trong việc cung cấp các dịch vụ bưu chính công ích.

2) Duy trì và làm mới việc cung cấp tất cả các dịch vụ hiện có, tăng cường các dịch vụ cộng thêm trên cơ sở không tăng lao động và chi phí; trong đó chú trọng một số dịch vụ trong  tương lai vẫn duy trì khả năng doanh thu cao.

Chủ động triển khai công tác nghiên cứu thị trường để cung cấp cho khách hàng nhiều dịch vụ bưu chính mới, đa dạng, có chất lượng. Đến năm 2010 sẽ phát triển mới và đồng thời đạt tới tình trạng hoạt động ổn định đối với các dịch vụ: Direct Mail; Kho vận; Mua hàng qua Bưu điện - thương mại điện tử; Ngân hàng; Trả chuyển tiền bằng ngoại tệ; Dịch vụ thanh toán qua Bưu điện; Đại lý bảo hiểm; Mua bán lại dịch vụ viễn thông; Đại lý văn hoá phẩm, hàng hoá v.v...

Tham gia kinh doanh, phát triển, mở rộng kinh doanh các dịch vụ viễn thông theo hướng mua, bán lại dịch vụ và các ngành nghề kinh doanh khác như: bảo hiểm, du lịch; tham gia hoạt động kinh doanh tài chính theo nhiệm vụ được giao; tăng cường hợp tác phát triển với doanh nghiệp mới và quốc tế.

3) Phát triển nguồn nhân lực: đổi mới chương trình, nội dung và chính sách đào tạo, cơ cấu lại lao động bưu chính cho phù hợp sự phát triển của các dịch vụ chất lượng cao trong giai mới; duy trì tổng số lao động bưu chính hiện có trong giai đoạn chuyển đổi; sắp xếp lại lao động, đào tạo và tái đào tạo để thích ứng với các dịch vụ mới; xây dựng cơ chế phân phối thu nhập nhằm khuyến khích, thúc đẩy phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị thành viên  và cán bộ công nhân viên của Tổng công ty.

4) Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ cao vào quản lý, khai thác, kinh doanh: đẩy mạnh phát triển hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ; nâng cao uy tín, tạo hình ảnh đẹp cho doanh nghiệp; nâng cao chất lượng quản lý, khai thác, kinh doanh cho phép phát triển đa dịch vụ trên mạng bưu chính công cộng, góp phần giảm chi phí, giảm giá thành dịch vụ, nâng cao hiệu quả kinh doanh và tăng năng suất lao động.

5) Đổi mới cơ chế quản lý sản xuất kinh doanh phù hợp cơ chế thị trường, nâng cao tính tự chủ kinh doanh của các đơn vị theo hướng xác định rõ các đơn vị chủ kinh doanh dịch vụ, xác lập mối quan hệ giữa các đơn vị tham gia thông qua hợp đồng; xây dựng mới các cơ chế, chính sách quản lý nội bộ, hệ thống thống kê số liệu, hệ thống thông tin quản lý (MIS); các loại định mức kinh tế - kỹ thuật.

6) Điều chỉnh cước phí các dịch vụ bưu chính: điều chỉnh cước bưu kiện, bưu chính uỷ thác, cước phí phát hành báo chí, tăng cước phát hành các loại báo chí kinh doanh (trừ báo địa phương) theo hướng thị trường; đề xuất lộ trình điều chỉnh cước tem thư trong nước theo hướng dần từng bước tiệm cận giá thành, để đến năm 2013 phù hợp với lộ trình UPU áp dụng thanh toán cước bưu phẩm quốc tế cho những nước đang phát triển.

Trong số những giải pháp trên, đáng quan ngại nhất là vấn đề xử lý lao động. Từ trước, các hoạt động bưu chính công ích được VNPT cung cấp và được bù chéo từ viễn thông. Nay, các dịch vụ này sẽ được Tổng công ty Bưu chính việt Nam đảm đương cung cấp theo cơ chế đặt hàng hoặc đấu thầu của Nhà nước. Mục tiêu của Tổng công ty Bưu chính Việt Nam trong giai đoạn trước mắt là thực hiện các giải pháp giảm chi phí, tăng hiệu quả cung cấp các dịch vụ công ích đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của Nhà nước và xã hội, trong đó, giải pháp giảm chi phí lao động trong cơ cấu chi phí giá thành đáng được lưu tâm nhất.

Hơn nữa, Tổng công ty Bưu chính phải thực hiện các nhiệm vụ kinh doanh như bao doanh nghiệp khác. Trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, giá và chất lượng là 2 yếu tố quan trọng quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp. Để đáp ứng những yêu cầu cấp thiết đó, Tổng công ty phải giảm chi phí giá thành (nhất là giảm tỷ trọng chi phí nhân công trong tổng chi phí tạo ra một đơn vị sản phẩm) và nâng cao chất lượng dịch vụ.

Hệ quả là, Chính phủ cũng như các nhà quản lý VNPT đứng trước một áp lực rất lớn về nhân sự: sắp xếp lại lao động cho toàn VNPT sau khi chia tách và chuyển sang Tập đoàn BCVT, ổn định tư tưởng cho những người chuyển từ nơi có lợi nhuận cao (viễn thông) sang nơi có lợi nhuận thấp (bưu chính); đào tạo lại, nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng quản lý, kỹ năng kinh doanh cho phần lớn số lao động bưu chính, xử lý lao động dôi dư ...và đồng thời lại phải đảm bảo duy trì ổn định đời sống người lao động (dự kiến phải tiếp nhận hơn một nửa số lao động của VNPT - hơn 40.000 lao động) với doanh thu nhỏ chỉ khoảng 6% tổng doanh thu toàn VNPT hiện nay.

Như vậy, để triển khai thực hiện các giải pháp chiến lược, cũng như các kế hoạch hành động một cách có hiệu quả, Tổng công ty Bưu chính Việt Nam rất cần sự phối hợp, hỗ trợ của Chính phủ, của các Bộ, Ngành, các tổ chức liên quan, trong đó, đặc biệt là Công đoàn Bưu điện Việt Nam - người đã, đang và sẽ luôn sát cánh, kịp thời động viên, cổ vũ những người lao động bưu chính, nhất là trong lúc khó khăn này, góp phần thực hiện tốt mục tiêu doanh nghiệp và nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó.

Vi trí 1 Vị trí 2

VĂN HÓA VNPT

   

VNPT là doanh nghiệp có bề dày truyền thống gắn liền với lịch sử, truyền thống của ngành Bưu điện Việt Nam, một truyền thống hào hùng, vẻ vang được xây đắp nên bởi mồ hôi và cả xương máu của các thế hệ người Bưu điện và được đúc kết bởi 10 chữ Vàng “Trung thành - Dũng cảm - Tận tuỵ - Sáng tạo - Nghĩa tình”.

Với truyền thống ấy, ngành Bưu điện và VNPT đã làm nên kỳ tích tăng tốc phát triển, hiện đại hóa Bưu chính Viễn thông Việt Nam ngang tầm thế giới, được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận là ngành đi đầu trong sự nghiệp Đổi mới.

Trước những thách thức của cạnh tranh và hội nhập quốc tế, VNPT đã và đang nỗ lực vượt bậc để trở thành Tập đoàn kinh tế VT-CNTT và Truyền thông hàng đầu Việt Nam, có uy tín trên trường quốc tế, tiếp nối xứng đáng truyền thống vẻ vang của Ngành.

Nội lực nền tảng để thực hiện được những mục tiêu đó chính là Văn hóa VNPT – những giá trị đã được kết tinh từ năm 1945 đến nay và bây giờ tinh thần cốt lõi là “VNPT – Cuộc sống đích thực”, bao gồm tạo dựng con người VNPT đích thực, xây dựng môi trường VNPT đích thực, làm ra sản phẩm VNPT đích thực. Với mục tiêu và ý nghĩa đó, VNPT ban hành Sổ tay Văn hóa: “VNPT – Cuộc sống đích thực” để "Lãnh đạo tiên phong, trên dưới đồng lòng" vì "Mái nhà chung VNPT" phát triển nhanh, vượt trội, bền vững.

Địa chỉ liên kết

Cuộc thi Người VNPT cần biết