Sổ tay cán bộ Công đoàn

Hoạt động của cán bộ công đoàn cơ sở

Thứ Bảy, 09/04/2016, 00:34

Cán bộ công đoàn là người được bầu vào các chức danh thông qua bầu cử tại đại hội hoặc hội nghị công đoàn (từ phó tổ công đoàn trở lên); được cơ quan đơn vị có thẩm quyền của công đoàn chỉ định hoặc bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ công đoàn hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn.

Cán bộ công đoàn gồm cán bộ chuyên trách và cán bộ không chuyên trách; cán bộ công đoàn cơ sở có chủ tịch, phó chủ tịch, ủy viên ban thường vụ, ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban kiểm tra công đoàn cơ sở, công đoàn cơ sở thành viên, nghiệp đoàn, công đoàn bộ phận, nghiệp đoàn bộ phận, tổ trưởng, tổ phó công đoàn, tổ nghiệp đoàn… (gọi chung là cán bộ công đoàn cơ sở).
Phương pháp hoạt động công đoàn
Phương pháp hoạt động công đoàn là cách thức tác động đến người lao động và đoàn viên, nhằm thực hiện mục tiêu, nội dung và nguyên tắc hoạt động công đoàn trong hoàn cảnh, điều kiện cụ thể.
a) Phương pháp thuyết phục
Thuyết phục là hoạt động có ý thức, mục đích, kế hoạch, bằng lý lẽ và việc làm mẫu mực, sự gương mẫu của cán bộ công đoàn để người lao động hiểu và tự nguyện tham gia các hoạt động do công đoàn tổ chức.
Muốn thuyết phục người lao động, cán bộ công đoàn cân biết rõ đối tượng, để có nội dung, hình thức thuyết phục phù hợp, kiên trì dẫn dắt, hướng dẫn người lao động theo mục tiêu đề ra. Đối tượng thuyết phục bao gồm: Cán bộ, đoàn viên, người lao động và người sử dụng lao động, cần tìm hiểu về tâm lý, tư tưởng, trình độ của đối tượng.
b) Tổ chức cho người lao động hoạt động
Nhằm thu hút đông đảo đoàn viên, người lao động tích cực tham gia hoạt động, góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị của đơn vị và xây dựng công đoàn vững mạnh.
Để tổ chức cho người lao động hoạt động, các cấp công đoàn cần: Lựa chọn hình thức sinh hoạt hấp dẫn; nội dung hoạt động phù hợp với trình độ người lao động, với tình hình sản xuất, kinh doanh, công tác của đơn vị.
Trong tổ chức hoạt động, càng thu hút được nhiều người tham gia thì hiệu quả càng cao; cần xây dựng kế hoạch cụ thể, chi tiết, thành lập các ban chuyên đề, tập hợp người nhiệt tình, có khả năng làm nòng cốt tham gia các hoạt động.
c) Xây dựng hệ thống quy chế và tổ chức hoạt động bằng quy chế
Hoạt động bằng quy chế là kết quả của việc vận dụng, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tập thể lãnh đạo và nêu cao trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu trong công việc thực hiện vai trò, nhiệm vụ, chức năng công đoàn.
Hoạt động theo quy chế, tức là công đoàn thực hiện chức năng tham gia quản lý đơn vị.
Các loại quy chế cơ bản bao gồm: Quy chế hoạt động của ban chấp hành công đoàn, quy chế phối hợp hoạt động giữa ban chấp hành công đoàn cơ sở với người đứng đầu doanh nghiệp hoặc thủ trưởng đơn vị; quy chế dân chủ ở cơ sở.
Để xây dựng và hoạt động bằng quy chế, công đoàn phải chủ động xây dựng và tham gia xây dựng các quy chế và tổ chức hoạt động theo quy chế; cán bộ công đoàn phải am hiểu pháp luật, nắm vững chức năng, nhiệm vụ của công đoàn, đặc điểm, tình hình đơn vị và tập hợp được mạng lưới có liên quan giúp công đoàn xây dựng và thực hiện quy chế.
Định kỳ tổ chức tổng kết, bổ sung, sửa đổi quy chế.

NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA CHỦ TỊCH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ

1. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ của chủ tịch công đoàn cơ sở
a) Vị trí, vai trò của chủ tịch công đoàn cơ sở
 Chủ tịch công đoàn cơ sở do ban chấp hành công đoàn cơ sở bầu ra hoặc đại hội công đoàn cơ sở trực tiếp bầu ra, được công đoàn cấp trên trực tiếp ra quyết định công nhận. Chủ tịch công đoàn cơ sở là người đứng đầu ban thường vụ, ban chấp hành có trách nhiệm điều hành hoạt động của ban thường vụ (nếu có), ban chấp hành.
Chủ tịch công đoàn cơ sở là người đại diện theo pháp luật của ban chấp hành công đoàn cơ sở để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho công nhân, viên chức, lao động.

b) Nhiệm vụ của chủ tịch công đoàn cơ sở
- Cùng với ban chấp hành công đoàn cơ sở vận động, tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của công đoàn cấp trên và nghị quyết của công đoàn cơ sở trong công tác hoạt động công đoàn cơ sở.
- Điều hành công việc hàng ngày: Chuẩn bị các nội dung và chủ trì các cuộc họp của ban thường vụ, ban chấp hành.
- Tổ chức, phân công, kiểm tra thực hiện chế độ làm việc của cán bộ công đoàn tại cơ sở.
- Thay mặt ban chấp hành tham gia ý kiến, bàn bạc, thống nhất, phối hợp với người sử dụng lao động giải quyết các vấn đề liên quan đến hai bên trong quan hệ lao động.
- Thường xuyên tranh thủ sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, công đoàn cấp trên.
- Đôn đốc việc thu, nộp đoàn phí, kinh phí công đoàn.
2. Nội dung công tác của chủ tịch công đoàn cơ sở
a) Nghiên cứu, nắm vững chế độ, chính sách và pháp luật của Nhà nước liên quan đến người lao động, nghị quyết của công đoàn cấp trên, tình hình sản xuất,  kinh doanh của doanh nghiệp và nhiệm vụ chính trị của đơn vị…
b) Nắm vững nội dung và tổ chức thực hiện các nội dung xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh.
c) Xây dựng, triển khai thực hiện chương trình công tác của công đoàn cơ sở. Chỉ đạo hoạt động của các ủy viên ban chấp hành công đoàn cơ sở, ban chấp hành công đoàn cơ sở thành viên (nếu có), ban chấp hành công đoàn bộ phận và tổ công đoàn.
d) Thực hiện công tác sơ kết, tổng kết và thực hiện chế độ thông tin báo cáo.

3. Phương pháp công tác của chủ tịch công đoàn cơ sở
a) Thuyết phục
Muốn thuyết phục tốt, chủ tịch công đoàn cơ sở phải thực hiện những yêu cầu sau:
- Phải liên hệ mật thiết, gần gũi với công nhân, viên chức, lao động và đoàn viên công đoàn để nắm tâm tư nguyện vọng của họ.
- Phải gương mẫu, có phẩm chất đạo đức tốt.
- Nhiệt tình, tâm huyết với công tác công đoàn, chịu khó học hỏi, tìm hiểu nâng cao trình độ, đặc biệt là các chế độ chính sách, pháp luật có liên quan đến người lao động.
- Có tinh thần trách nhiệm, trung thực, thẳng thắn đấu tranh để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho người lao động.
- Phải kiên trì, nhẫn nại, giải quyết kịp thời những bức xúc của công nhân, viên chức, lao động, đoàn viên công đoàn.
b) Tổ chức
Chủ tịch công đoàn cơ sở cần nắm vững các hình thức tổ chức sau:
- Cơ cấu tổ chức của công đoàn cơ sở.
- Các Ban chuyên đề (Chính sách – pháp luật - Thi đua, Nữ công, Bảo hộ lao động…): việc bố trí, phân công cán bộ trong các Ban chuyên đề cần chú ý đến các đoàn viên có chuyên môn, nghiệp vụ và ổn định lâu dài.
- Tổ chức và sử dụng đội ngũ cộng tác viên cho hoạt động công đoàn nhằm tập hợp trí tuệ người lao động.
- Tổ chức nhiều hình thức khác nhau như : Tọa đàm, sinh hoạt các câu lạc bộ… nhằm tập hợp, phát huy trí tuệ của công nhân viên, viên chức, lao động, đoàn viên công đoàn, đồng thời đổi mới hình thức sinh hoạt của công đoàn.
- Chủ động (định lỳ hoặc đột xuất) tổ chức hoặc đề xuất tổ chức đối thoại giữa người lao động với người sử dụng lao động để kịp thời giải quyết những bức xúc, yêu cầu hợp pháp, chính đáng của người lao động.
c) Thu nhập và xử lý thông tin
Thông tin là khâu quan trọng không thể thiếu trong công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện; là căn cứ để xây dựng chương trình công tác và đề ra được những quyết định chính xác.
Các nguồn thông tin bao gồm:
- Thông tin từ các cuộc họp, hội nghị.
- Thông tin từ cán bộ công đoàn.
- Thông tin từ đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động.
Khi có được thông tin, chủ tịch công đoàn cơ sở cần xử lý thông tin kịp thời, cụ thể là:
- Kiểm tra độ chính xác, tin cậy của thông tin.
- Phối hợp với chuyên môn và các bộ phận chức năng khác có liên quan để xử lý.
d) Làm việc theo chương trình công tác
Chương trình công tác là thể hiện tính khoa học nhằm:
- Khắc phục bệnh quan liêu, hành chính.
- Xác định công việc cần tập trung thực hiện.
- Nắm, kiểm tra được tiến bộ công việc để tiếp tục chỉ đạo.
đ) Thực hiện dân chủ công khai
- Chủ tịch công đoàn cơ sở cần bàn bạc với người sử dụng lao động thực hiện công khai các vấn đề có liên quan đến người lao động: Chế độ chính sách, lương, thưởng, định mức lao động…
- Chỉ đạo và tổ chức cho công nhân, viên chức, lao động tham gia và thực hiện các loại quy chế và nội quy của đơn vị.
e) Giải quyết các mối quan hệ
Chủ tịch công đoàn cơ sở thay mặt cho ban chấp hành công đoàn cơ sở giải quyết tốt các mối quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động.
Các mối quan hệ chủ tịch công đoàn cơ sở thường gặp:
e1) Quan hệ giữa công đoàn với cấp ủy Đảng (nếu có):
Đây là mối quan hệ của người đứng đầu tổ chức công đoàn cơ sở, đại diện người lao động với tổ chức, cơ quan lãnh đạo Đảng. Trong quan hệ này, vai trò của công đoàn là “sợi dây chuyền” nối Đảng với công nhân, viên chức, lao động, gồm hai chiều như sau:
- Cấp ủy Đảng lãnh đạo công đoàn: Cấp ủy Đảng lãnh đạo công đoàn bằng nghị quyết của Đảng, thông qua đảng viên hoạt động công đoàn, bằng việc phân công cán bộ và tôn trọng tính độc lập của tổ chức công đoàn.
- Công đoàn có trách nhiệm đối với Đảng:  Công đoàn cơ sở cần thực hiện những việc sau:
+ Công đoàn tuyên truyền phổ biến những chủ trương, nghị quyết của Đảng đến công nhân, viên chức, lao động.
+ Tập hợp, phản ánh những tâm tư, nguyện vọng của công nhân viên chức, lao động cho Đảng.
+ Tham gia xây dựng Đảng: Giáo dục, bồi dưỡng giới thiệu đoàn viên công đoàn ưu tú cho Đảng xem xét kết nạp. Những đoàn viên Thanh niên hết tuổi đoàn hoặc ở những nơi không có tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thì ban chấp hành công đoàn cơ sở thay cho một đảng viên chính thức giới thiệu đoàn viên công đoàn ưu tú vào Đảng.
+ Công đoàn tổ chức cho đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động tham gia xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và góp ý cho từng đảng viên trong chi bộ.
+ Luôn bảo đảm nguyên tắc lãnh đạo của cấp ủy Đảng.
e2) Quan hệ giữa chủ tịch công đoàn cơ sở với giám đốc doanh nghiệp:
Đây là mối quan hệ giữa đại diện công nhân, viên chức, lao động với người sử dụng lao động, là mối quan hệ cơ bản nhất trong việc phối hợp tổ chức thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn.
Để giải quyết tốt quan hệ hài hòa này, hai bên phải tôn trọng, hợp tác, để thực hiện mục tiêu chung của đơn vị, doanh nghiệp, cụ thể là:
- Tạo cho việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, sản xuất kinh doanh của đơn vị, doanh nghiệp ngày càng có hiệu quả và phát triển bền vững.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, công nhân, lao động ngày càng phát triển về mọi mặt.
Luật Công đoàn năm 2012 cũng đã quy định: Công đoàn cùng với người sử dụng lao động cùng bàn bạc, thảo luận, thống nhất những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích của người lao động.
Trong mối quan hệ này, chủ tịch công đoàn cần sáng tạo, linh hoạt và có nguyên tắc xử lý thực hiện các tình huống sau:
- Khi thủ trưởng đơn vị, giám đốc làm đúng: Chủ tịch công đoàn cơ sở tìm hiểu việc làm của thủ trưởng, giám đốc, phải ủng hộ và vận động công nhân, viên chức, lao động ủng hộ việc làm đúng của giám đốc doanh nghiệp.
- Khi thủ trưởng đơn vị, giám đốc gặp khó khăn: Chủ tịch công đoàn cơ sở vận động công nhân, viên chức, lao động tìm mọi cách cùng thủ trưởng, giám đốc tháo gỡ những khó khăn đó, chủ tịch công đoàn cơ sở không thể “đứng ngoài xem”.
- Khi thủ trưởng đơn vị, giám đốc làm sai, vi phạm chế độ chính sách, pháp luật:
Về nguyên tắc, không thể để cho giám đốc làm sai hoặc vi phạm. Do vậy, khi phát hiện hành vi sai phạm hoặc có dấu hiệu sai phạm, chủ tịch công đoàn cơ sở phải hết sức linh hoạt, mềm dẻo để xử lý theo các bước sau:
+ Chủ tịch công đoàn cơ sở gặp riêng giám đốc để chỉ ra và bày tỏ công đoàn không đồng tình với việc làm sai của giám đốc.
+ Nếu không được, ban chấp hành công đoàn cơ sở họp có văn bản kiến nghị Ban giám đốc, yêu cầu không được sai phạm.
+ Nếu không được, ban chấp hành công đoàn cơ sở có văn bản kiến nghị lên cấp ủy Đảng và công đoàn cấp trên trực tiếp, đề nghị giúp đỡ giải quyết.
e3) Quan hệ giữa chủ tịch công đoàn cơ sở với cán bộ, công nhân, viên chức, lao động:
Chủ tịch công đoàn cơ sở là thủ lĩnh, người đại diện cho công nhân, viên chức, lao động trong đơn vị,doanh nghiệp.
- Phải luôn giữ mối quan hệ mật thiết với công nhân, viên chức, lao động, đoàn viên công đoàn.
- Luôn gặp gỡ, lắng nghe, trao đổi, giúp đỡ công nhân, viên chức, lao động, đoàn viên công đoàn.
e4) Quan hệ với các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội trong cùng đơn vị:
Đây là mối quan hệ giữa tổ chức (Công đoàn) với một tổ chức (Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội cựu chiến binh…). Chủ tịch công đoàn cần phải tôn trọng, phối hợp và giúp đỡ, vì các thành viên của đoàn, hội cũng là đoàn viên công đoàn.
e5) Chủ tịch công đoàn cơ sở quan hệ với ván bộ công đoàn là ủy viên ban chấp hành công đoàn cơ sở, công đoàn cơ sở thành viên, công đoàn bộ phận, tổ công đoàn, các Ban hoạt động chuyên đề của công đoàn:
Đây là quan hệ chỉ đạo, tổ chức, kiểm tra thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn cơ sở.
e6) Quan hệ với công đoàn cấp trên: Nắm bắt thông tin, báo cáo; tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo:
Quan hệ hợp tác, giao lưu, học tập với các công đoàn bạn trong cùng ngành nghề, trên cùng địa bàn, khu vực.
g) Kiểm tra và tự kiểm tra
- Kiểm tra và tự kiểm tra là một nguyên tắc của người lãnh đạo. Chủ tịch công đoàn cơ sở là người lãnh đạo công đoàn cơ sở, phải coi trọng công tác kiểm tra và tự kiểm tra.
- Kiểm tra phải căn cứ vào nhiệm vụ, kế hoạch đã đề ra.
- Kiểm tra phải được tiến hành dân chủ, công khai.
- Kiểm tra phải dựa vào cán bộ công đoàn và đoàn viên công đoàn.
- Kiểm tra phải khách quan, trung thực, tránh tình trạng moi móc, cá nhân chủ nghĩa.
4. Kinh nghiệm công tác của chủ tịch công đoàn cơ sở
a) Kết hợp tính tổ chức – kỷ luật với tính sáng tạo, linh hoạt
- Chủ tịch công đoàn phải coi trọng và thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Mọi chủ trương của cấp trên phải được chấp hành một cách nghiêm túc, dù có thể có những vấn đề cá nhân chưa đồng tình nhưng khi tập thể đã biểu quyết thông qua, phải thực hiện và chỉ đạo thực hiện. Tránh việc lồng ghép ý kiến cá nhân để làm những việc trái với những điều tập thể đã quyết định.
- Xây dựng, triển khai các hoạt động và thực hiện việc kiểm tra, giám sát theo quy chế đã đề ra.
b) Kết hợp tính khoa học và tính nghệ thuật trong công việc
- Chủ tịch công đoàn cơ sở phải hết sức nhạy bén với thực tế ở cơ sở mình. Việc triển khai, tổ chức thực hiện kế hoạch công tác phải tùy đặc điểm, tình hình tại đơn vị, doanh nghiệp để giao việc phù hợp với khả năng của số đông thành viên, công nhân, lao động. Chủ trương, kế hoạch công tác phải được thực hiện bằng các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể và thời gian hoàn thành, có phân công người thực hiện kiểm tra, đôn đốc, theo dõi và đánh giá kết quả thực hiện.
- Kịp thời khen thưởng, động viên, khích lệ hoặc hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện để cán bộ, đoàn viên thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn cấp mình.
c) Phải đảm bảo tính lịch sử, cụ thể với tính quần chúng rộng lớn
- Mọi sự việc phát sinh đều có bối cảnh cụ thể, đòi hòi chủ tịch công đoàn phải có cách nhìn thực tế, khách quan trung thực và phải xem xét tính lịch sử của công việc.
- Hoạt động công đoàn mang tính quần chúng rộng lớn, sức mạnh của công đoàn là ở chỗ tập hợp được đông đảo công nhân, viên chức, lao động, đoàn viên công đoàn tham gia. Do vậy, tập hợp và thống nhất được tư tưởng, ý chí, nguyện vọng của công nhân, viên chức, lao động, đoàn viên công đoàn sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ công đoàn đề ra.
d) Các bước tổ chức, thực hiện kế hoạch công tác
d1) Bước 1: Xây dựng kế hoạch công tác:
- Kế hoạch công tác của chủ tịch công đoàn cơ sở phải cụ thể, thiết thực đối với từng việc, từng nội dung.
- Nội dung, thời gian thực hiện kế hoạch phải bám sát vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị hay sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp (mang màu sắc và thể hiện tính đặc trưng của đơn vị, doanh nghiệp)
- Tránh việc xây dựng kế hoạch mang tính hình thức, không thực tế, khó thực hiện hoặc không sát, đúng với nhiệm vụ chính trị, chuyên môn, tình hình thực tế sản xuất, kinh doanh của đơn vị, doanh nghiệp.
d2) Bước 2: Triển khai kế hoạch công tác:
Khi tổ chức thực hiện cần lưu ý một số điểm sau:
- Việc truyền đạt các chủ trương, quyết định của công đoàn là chuyển hóa nhận thức thành tình cảm và hành động nên chủ tịch công đoàn phải biết phát động, tổ chức cho đoàn viên hành động.
- Khi cần thiết hoặc đối với những việc phức tạp, nên tổ chức làm thử, làm điểm để rút kinh nghiệm trước khi nhân ra diện rộng.
d3) Bước 3: Kiểm tra, giám sát thực hiện kế hoạch:
Nội dung kiểm tra, giám sát phải căn cứ vào nội dung công việc đã đề ra, khi kiểm tra phải bảo đảm các nguyên tắc sau:
- Bảo đảm tính quần chúng rộn lớn. Phải dựa vào đoàn viên, công nhân, lao động để tiến hành kiểm tra. Khi kiểm tra phát hiện có vấn đề phải tham khảo ý kiến đoàn viên và các văn bản trước khi xử lý.
- Động viên, khích lệ kịp thời những ưu điểm, giúp đỡ bộ phận được kiểm tra khắc phục sai sót, yếu kém của mình. Cần tránh những việc thổi phồng khuyết điểm để trừng trị hoặc phê phán.
- Kiểm tra phải tiến hành công khai, khách quan. Những vi phạm được phát hiện kịp thời cũng cần xử lý dân chủ, công khai, công bằng, hợp lý và kịp thời.
d4) Bước 4: Sơ kết, tổng kết, nhân rộng điển hình tiên tiến:
Sơ, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm những mục tiêu, nội dung theo kế hoạch đã được xây dựng, triển khai thực hiện.
Phương châm phải cụ thể, ngắn gọn, nhìn nhận đánh giá, khen, chê mang tính khách quan; chú ý những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện.
Tóm lại: Nội dung, phương pháp công tác của chủ tịch công đoàn hết sức phong phú, đa dạng, chủ tịch công đoàn cơ sở cần phải có:
- Nhiệt tình với công tác công đoàn.
- Có trình độ nhất định để nắm bắt và vận dụng chủ trương, đường lối, pháp luật vào thực thực tiễn cơ sở mình một cách linh hoạt, thích hợp và biến nó thành hiện thực.
- Chủ tịch công đoàn phải có trách nhiệm cao; có uy tín với công nhân, viên chức, lao động, đoàn viên công đoàn; có bản lĩnh đấu tranh để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của người lao động.
Chủ tịch công đoàn cơ sở đóng vai trò quyết định hoạt động của công đoàn cơ sở. Do vậy, chủ tịch phải luôn tìm tòi, sáng tạo, bổ sung kinh nghiệm hoạt động, làm phong phú thêm nội dung hoạt động của công đoàn. Chủ tịch công đoàn cơ sở phải thật sự trở thành “người thủ lĩnh” và chỗ dựa tin cậy của công nhân, viên chức, lao động, đoàn viên công đoàn.

III. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP HOẠT ĐỘNG CỦA BAN THƯỜNG VỤ, BAN CHẤP HÀNH CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ, CÔNG ĐOÀN BỘ PHẬN

1. Nhiệm vụ, phương pháp, nguyên tắc hoạt động của ban thường vụ công đoàn cơ sở
a) Nhiệm vụ của Ban thường vụ công đoàn cơ sở
- Thay mặt ban chấp hành công đoàn cơ sở chuẩn bị nội dung các kỳ họp ban chấp hành (chương trình, kế hoạch, nghị quyết…)
- Chỉ đạo thực hiện các nghị quyết, kế hoạch của ban chấp hành khi đã được hội nghị ban chấp hành thông qua.
- Thay mặt ban chấp hành, điều hành các hoạt động của công đoàn cơ sở giữa 2 kỳ họp của ban chấp hành.
- Báo cáo các hoạt động của ban thường vụ tại hội nghị thường kỳ của ban chấp hành.
- Trực tiếp chỉ đạo hoạt động của công đoàn cơ sở thành viên (nếu có) công đoàn bộ phận, các Ban quần chúng của công đoàn.
- Đại diện, tập hợp các ý kiến của cán bộ, công nhân, viên chức, lao động để tham gia với giám đốc (doanh nghiệp), thủ trưởng (đơn vị).
- Đại diện cho cán bộ, công nhân, viên chức, lao động tham gia vào các hội đồng tại đơn vị, doanh nghiệp có liên quan.
b) Phương pháp và nguyên tắc hoạt động
- Tổ chức phân công cho các ủy viên theo đúng chức trách, nhiệm vụ.
- Xây dựng và triển khai thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của từng năm và nhiệm kỳ.
- Tổ chức kiểm tra, đôn đốc các công đoàn cơ sở thành viên (nếu có) công đoàn bộ phận, tổ công đoàn thực hiện.
Ban thường vụ công đoàn cơ sở hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
2. Hoạt động của ban chấp hành công đoàn cơ sở
a) Nhiệm vụ ban chấp hành công đoàn cơ sở
- Tổ chức thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của đại hội công đoàn cấp mình; nghị quyết, kế hoạch, hướng dẫn của công đoàn cấp trên thật sát, đúng với điều kiện, yêu cầu nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của đơn vị mình.
- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của công đoàn cơ sở thành viên (nếu có), công đoàn bộ phận, tổ công đoàn, ủy ban kiểm tra, Ban thanh tra nhân dân…
- Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo với: Cấp ủy Đảng, công đoàn cấp trên, thủ trưởng đơn vị hoặc giám đốc doanh nghiệp, công đoàn cấp dưới và cán bộ công nhân, viên chức, lao động.
- Đại diện cho đoàn viên công đoàn tham gia quản lý, tham dự các cuộc họp tại đơn vị, doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện thu, chi tài chính, quản lý tài sản và hoạt động kinh tế của công đoàn theo đúng quy định.
b) Nguyên tắc, phương pháp hoạt động của ban chấp hành công đoàn cơ sở
- Ban chấp hành công đoàn cơ sở thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ: tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thiểu số phục tùng đa số. Nghị quyết của ban chấp hành phải được đa số ủy viên ban chấp hành công đoàn cơ sở thông qua.
- Các ủy viên ban chấp hành công đoàn cơ sở có quyền và nghĩa vụ thảo luận, biểu quyết những vấn đề có liên quan đến hoạt động của công đoàn cơ sở.
- Xây dựng quy chế hoạt động của ban chấp hành và tổ chức hoạt động có nền nếp.
- Xây dựng kế hoạch, tổ chức các hoạt động thiết thực.
- Phân công, giúp đỡ các ủy viên ban chấp hành, ủy ban kiểm tra hoàn thành nhiệm vụ.
- Sơ, tổng kết, đánh giá hoạt động.
c) Tổ chức hội nghị ban chấp hành công đoàn cơ sở:
c1) Nguyên tắc chung:
- Xây dựng quy chế làm việc của ban chấp hành công đoàn cơ sở và tổ chức hoạt động theo quy chế đã được Ban hành.
- Ban chấp hành công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn, công đoàn cơ sở thành viên 3 tháng họp ít nhất một lần (trừ lần đầu họp trong vòng 15 ngày, sau đại hội công đoàn cơ sở).
- Hội nghị ban chấp hành công đoàn cơ sở phải ít nhất có 2/3 ủy viên ban chấp hành công đoàn cơ sở đến dự mới có giá trị. Hội nghị phải ghi biên bản, ban hành nghị quyết, chương trình, kế hoạch công tác.. (nếu có).
- Các ủy viên ban chấp hành có quyền và nghĩa vụ thảo luận, biểu quyết những vấn đề có liên quan đến tổ chức hoạt động công đoàn.
- Nghị quyết hội nghị ban chấp hành công đoàn cơ sở chỉ có giá trị khi có trên 50% ủy viên ban chấp hành dự họp tán thành.
c2) Tổ chức hội nghị thường kỳ ban chấp hành công đoàn cơ sở:
- Hội nghị thường kỳ ban chấp hành công đoàn cơ sở không bầu đoàn chủ tịch hoặc bầu người chủ trì mà chủ tịch công đoàn cơ sở có trách nhiệm chủ trì hội nghị.
Để tăng cường tính dân chủ và thuận lợi cho việc điều hành hội nghị, chủ tịch công đoàn cơ sở có thể cử thêm một hoặc một số phó chủ tịch công đoàn cơ sở tham gia điều hành hội nghị (nếu có).
Chủ trì hội nghị có trách nhiệm khai mạc, tuyên bố lý do, giới thiệu địa biểu, báo cáo về nội dung, chương trình làm việc để hội nghị thông qua. Trực tiếp điều hành các nội dung, chương trình của hội nghị.
- Nội dung hội nghị thường kỳ ban chấp hành gồm:
+ Thảo luận thông qua kết quả hoạt động công đoàn thời gian qua (giữa hai kỳ họp ban chấp hành hoặc mỗi quý, 6 tháng, 1 năm), kế hoạch tổ chức các hoạt động công đoàn thời gian tới và các giải pháp thực hiện;
+ Thảo luận và ra nghị quyết về các nội dung như: Xem xét kết nạp đoàn viên mới; sắp xếp kiện toàn về cơ cấu tổ chức công đoàn cơ sở; công tác cán bộ công đoàn cơ sở; triển khai thực hiện chỉ đạo các hoạt động của công đoàn cấp trên, cấp ủy đồng cấp (nếu có); công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, đoàn viên; phân công, điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ ủy viên ban chấp hành; bầu bổ sung các chức danh trong ban chấp hành, ủy ban kiểm tra…
+ Bầu bổ sung ủy viên ban chấp hành, ủy viên ủy ban kiểm tra công đoàn cơ sở (nếu có), thủ tục, trình tự bầu bổ sung theo quy định của Điều lệ và hướng dẫn thi hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam.
- Hội nghị ban chấp hành phải ghi biên bản đầy đủ, làm cơ sở để ban thường vụ, chủ tịch công đoàn cơ sở triển khai thực hiện theo nghị quyết của ban chấp hành đã thông qua.

3. Hoạt động của ban chấp hành công đoàn bộ phận
Ban chấp hành công đoàn bộ phận nối liền giữa công đoàn cơ sở (nền tảng của tổ chức công đoàn) với tổ công đoàn.
Công đoàn bộ phận nằm trong cơ cấu tổ chức của công đoàn cơ sở, do ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc ủy quyền cho công đoàn cơ sở thành viên quyết định thành lập khi cần thiết.
Nhiệm vụ, quyền hạn của ban chấp hành công đoàn bộ phận do ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc công đoàn cơ sở thành viên quy định (trong quy chế hoạt động của ban chấp hành công đoàn cơ sở).
a) Nội dung hoạt động
- Vận động tổ chức các phong trào thi đua, khuyến khích động viên cán bộ, công chức, viên chức, người lao động luôn có ý tưởng mới, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, sử dụng, ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất, cải tiến mẫu mã, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động.
- Phối hợp với lãnh đạo chuyên môn tạo cơ hội cho cán bộ, công chức, viên chức lao động được tham gia vào nội dung các quy chế về tiền lương, tiền thưởng, định mức lao động, nội quy lao động, sử dụng quỹ khen thưởng, phúc lợi… của đơn vị, doanh nghiệp (nếu có).
- Tham gia với chuyên môn bảo đảm dân chủ trong công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chế độ, chính sách, nội quy, quy chế nội bộ có liên quan đến người lao động.
- Hướng dẫn, giúp đỡ người lao động thực hiện tốt quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động trong quan hệ lao động với người sử dụng lao động.
- Thực hiện chế độ thông tin báo cáo với công đoàn cấp trên trực tiếp và công đoàn cấp dưới trực thuộc.
- Chỉ đạo các tổ công đoàn, cộng tác viên quần chúng hoạt động.
b) Phương pháp hoạt động
- Xây dựng kế hoạch chương trình công tác cụ thể, khoa học sát thực với nhiệm vụ của đơn vị, doanh nghiệp.
- Phân công trách nhiệm cụ thể rõ ràng theo từng công việc hoặc nhóm công việc, theo nội dung hoạt động cho từng ủy viên ban chấp hành công đoàn bộ phận, kiểm điểm rút kinh nghiệm, biểu dương, khen thưởng động viên kịp thời.
- Thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức hoạt động của công đoàn bộ phận, tổ công đoàn cho phù hợp với tình hình thực tế tại đơn vị, doanh nghiệp.
- Coi trọng việc hướng dẫn, chỉ đạo, có tổng kết đánh giá để nâng cao hiệu quả của tổ công đoàn.

4. Các điều kiện bảo đảm cho cán bộ công đoàn
a) Bộ luật Lao động năm 2012
Điều 192: Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với tổ chức công đoàn
- Khi người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách đang trong nhiệm kỳ công đoàn mà hết hạn hợp đồng lao động thì được gia hạn hợp đồng lao động đã giao kết đến hết nhiệm kỳ.
- Khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, chuyển làm công việc khác, kỷ luật sa thải đối với người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách thì phải thỏa thuận bằng văn bản với ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở.
Trong trường hợp không thỏa thuận được, hai bên phải báo cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Sau 30 ngày, kể từ ngày thông báo cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động địa phương, người sử dụng lao động mới có quyền quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
Trường hợp không nhất trí với quyết định của người sử dụng lao động, ban chấp hành công đoàn cơ sở và người lao động có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo thủ tục, trình tự do pháp luật quy định.
Điều 193: Bảo đảm điều kiện hoạt động công đoàn tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức:
1. Công đoàn cơ sở được người sử dụng lao động bố trí nơi làm việc và được cung cấp thông tin, bảo đảm các điều kiện cần thiết cho hoạt động công đoàn.
2. Cán bộ công đoàn không chuyên trách được sử dụng thời gian trong giờ làm việc để hoạt động công đoàn theo quy định của Luật Công đoàn và được người sử dụng lao động trả lương.
3. Cán bộ công đoàn chuyên trách tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức do công đoàn trả lương, được người sử dụng lao động bảo đảm phúc lợi tập thể như người lao động làm việc trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức theo thỏa ước lao động tập thể hoặc quy chế của người sử dụng lao động.
b) Luật Công đoàn năm 2012
Điều 24: Bảo đảm điều kiện hoạt động công đoàn
1. Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có trách nhiệm bố trí nơi làm việc và tạo điều kiện về phương tiện làm việc cần thiết cho công đoàn cùng cấp hoạt động.
2. Cán bộ công đoàn không chuyên trách được sử dụng 24 giờ làm việc trong một tháng đối với chủ tịch, phó chủ tịch công đoàn cơ sở; 12 giờ làm việc trong 01 tháng đối với ủy viên ban chấp hành, tổ trưởng, tổ phó công đoàn để làm công tác công đoàn và được đơn vị sử dụng lao động trả lương. Tùy theo quy mô cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp mà ban chấp hành công đoàn cơ sở và đơn vị sử dụng lao động thỏa thuận về thời gian tăng thêm.
3. Cán bộ công đoàn không chuyên trách được nghỉ làm việc và được hưởng lương do đơn vị sử dụng lao động chi trả trong những ngày tham dự cuộc họp, tập huấn do công đoàn cấp trên triệu tập; chi phí đi lại, ăn ở và sinh hoạt trong những ngày tham dự cuộc họp, tập huấn do công đoàn triệu tập chi trả.
4. Cán bộ công đoàn không chuyên trách do đơn vị sử dụng lao động trả lương, được hưởng phụ cấp trách nhiệm cán bộ công đoàn theo quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
5. Cán bộ công đoàn chuyên trách do công đoàn trả lương, được đơn vị sử dụng lao động bảo đảm quyền lợi và phúc lợi tập thể như người lao động đang làm việc trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.
Điều 25: Bảo đảm cho cán bộ công đoàn
1. Trường hợp hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hết hạn mà người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách đang trong nhiệm kỳ thì được gia hạn hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc đến hết nhiệm kỳ.
2. Đơn vị sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, sa thải, buộc thôi việc hoặc thuyên chuyển công tác đối với cán bộ công đoàn không chuyên trách nếu không có ý kiến thỏa thuận bằng văn bản của ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc ban chấp hành công đoàn cấp trên cơ sở trực tiếp. Trường hợp không thỏa thuận được, hai bên phải báo cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Sau 30 ngày, kể từ ngày báo cáo cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, đơn vị sử dụng lao động có quyền quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
3. Trường hợp người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách bị cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, buộc thôi việc hoặc sa thải trái pháp luật thì công đoàn có trách nhiệm yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp; nếu được ủy quyền thì công đoàn đại diện khởi kiện tại Tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho cán bộ công đoàn; đồng thời hỗ trợ tìm việc làm mới và trợ cấp trong thời gian gián đoạn việc làm theo quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam./.
Ý kiến bạn đọc:
Đang tải nội dung.....
Gửi bình luận của bạn



Vị trí 2

VĂN HÓA VNPT

   

VNPT là doanh nghiệp có bề dày truyền thống gắn liền với lịch sử, truyền thống của ngành Bưu điện Việt Nam, một truyền thống hào hùng, vẻ vang được xây đắp nên bởi mồ hôi và cả xương máu của các thế hệ người Bưu điện và được đúc kết bởi 10 chữ Vàng “Trung thành - Dũng cảm - Tận tuỵ - Sáng tạo - Nghĩa tình”.

Với truyền thống ấy, ngành Bưu điện và VNPT đã làm nên kỳ tích tăng tốc phát triển, hiện đại hóa Bưu chính Viễn thông Việt Nam ngang tầm thế giới, được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận là ngành đi đầu trong sự nghiệp Đổi mới.

Trước những thách thức của cạnh tranh và hội nhập quốc tế, VNPT đã và đang nỗ lực vượt bậc để trở thành Tập đoàn kinh tế VT-CNTT và Truyền thông hàng đầu Việt Nam, có uy tín trên trường quốc tế, tiếp nối xứng đáng truyền thống vẻ vang của Ngành.

Nội lực nền tảng để thực hiện được những mục tiêu đó chính là Văn hóa VNPT – những giá trị đã được kết tinh từ năm 1945 đến nay và bây giờ tinh thần cốt lõi là “VNPT – Cuộc sống đích thực”, bao gồm tạo dựng con người VNPT đích thực, xây dựng môi trường VNPT đích thực, làm ra sản phẩm VNPT đích thực. Với mục tiêu và ý nghĩa đó, VNPT ban hành Sổ tay Văn hóa: “VNPT – Cuộc sống đích thực” để "Lãnh đạo tiên phong, trên dưới đồng lòng" vì "Mái nhà chung VNPT" phát triển nhanh, vượt trội, bền vững.

Địa chỉ liên kết

VNPT-Media