Các kỳ Đại hội CĐBDVN

Báo cáo Kiểm điểm thực hiện nghị quyết đại hội xi và mục tiêu, nhiệm vụ nhiệm kỳ XII của Công đoàn Bưu điện Việt Nam

Thứ Năm, 06/01/2005, 13:58

Với tinh thần: “Kế thừa, ổn định, dân chủ, đổi mới, phát triển”, Đại hội XII Công đoàn Bưu điện Việt Nam có nhiệm vụ tổng kết, đánh giá phong trào CNVC lao động và hoạt động của tổ chức công đoàn 5 năm qua, đề ra nhiệm vụ trong 5 năm tới, nhằm động viên cbcnvc và tổ chức Công đoàn Bưu điện Việt Nam ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu trong giai đoạn chiến lược mới - giai đoạn Hội nhập - Phát triển, góp phần vào sự nghiệp CNH - HĐH đất nước vì mục tiêu: “Dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Trên cơ sở tiếp thu ý kiến của Đại hội công đoàn các cấp và đông đảo cán bộ, đoàn viên công đoàn, của các cán bộ lão thành trong ngành, Ban chấp hành Công đoàn Bưu điện Việt Nam (khoá XI) trình Đại hội báo cáo về tình hình phong trào CNVC lao động và kết quả hoạt động công đoàn nhiệm kỳ XI (1998 – 2003); Mục tiêu, phương hướng nhiệm vụ công đoàn nhiệm kỳ XII (2003 – 2008) gồm những nội dung chủ yếu sau đây.

Phần thứ nhất
Tình hình phong trào công nhân viên chức lao động và kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XI Công đoàn Bưu điện VN

A - Tình hình phong trào CNVC lao động


1 - Tình hình kinh tế xã hội

Nghị quyết Đại hội XI Công đoàn Bưu điện Việt Nam được tổ chức triển khai trong bối cảnh đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên con đường đổi mới do Đảng Cộng sản Việt nam khởi xướng và lãnh đạo, tạo tiền đề vững chắc cho việc chuyển sang thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước. Trong 5 năm qua, kinh tế - xã hội của đất nước đạt được nhịp độ tăng trưởng khá, phần lớn các mục tiêu chủ yếu đề ra trong chiến lược kinh tế - xã hội đã được thực hiện thắng lợi; quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế đạt được trên nhiều lĩnh vực; đời sống nhân dân, văn hoá xã hội tiếp tục được cải thiện và phát triển; cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực cả về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; cơ chế quản lý từng bước được hoàn thiện; tình hình xã hội được ổn định; quốc phòng an ninh được củng cố và giữ vững; uy tín và vị thế của nước ta không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế.

Sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đã tạo thời cơ và động lực to lớn cho việc hoàn thành thắng lợi kế hoạch tăng tốc độ phát triển bưu chính viễn thông giai đoạn II (1996 - 2000) và kế hoạch của những năm đầu trong chiến lược Hội nhập - Phát triển của Bưu điện Việt Nam; cho việc đổi mới công tác quản lý nhà nước và sản xuất kinh doanh. Đặc biệt Bộ Bưu chính Viễn thông được Quốc hội khoá XI phê chuẩn thành lập thể hiện sự quan tâm mang tính chiến lược lâu dài của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, là sự khẳng định bước trưởng thành, phát triển của Bưu điện Việt Nam, đặt ra yêu cầu mới về phát triển của Bưu chính, Viễn thông và Công nghệ thông tin trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước. 

Tuy nhiên tình hình kinh tế - xã hội của đất nước vẫn còn nhiều mặt khó khăn, cạnh tranh đã và đang diễn ra gay gắt trong sản xuất kinh doanh; cơ chế chính sách còn thiếu đồng bộ; tham nhũng, lãng phí và nhiều vấn đề tiêu cực ngoài xã hội còn rất bức xúc; thiên tai bão lụt xảy ra liên tiếp; tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp; đặt ra nhiều khó khăn thách thức, làm ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, tới sự phát triển của ngành và tác động trực tiếp đến phong trào CNVC và hoạt động Công đoàn Bưu điện Việt Nam.

2 - Tình hình phong trào công nhân viên chức lao động

Trong 5 năm qua, đội ngũ công nhân viên chức lao động Bưu điện có nhiều biến động, số lượng CNVC lao động tiếp tục tăng lên, đến nay đã có trên 9 vạn người. Trong quá trình bóc tách bưu chính, viễn thông và sắp xếp lại doanh nghiệp của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam, đã có trên hai vạn lao động được bố trí lại công việc; lực lượng lao động khối bưu chính có tỷ lệ trên 50%; khối viễn thông, công nghệ thông tin trên 40%, khối công nghiệp xây lắp, thương mại và cổ phần gần 8% và khối liên doanh có đầu tư của nước ngoài chiếm gần 2%, số lao động hợp đồng ngắn hạn cũng tăng nhanh. Chất lượng đội ngũ được nâng lên đáng kể, tuổi đời trẻ, có phẩm chất và bản lĩnh chính trị, có trình độ học vấn, khả năng chuyên môn, tay nghề, từng bước đáp ứng được yêu cầu đổi mới và phát triển của ngành.

Trên cơ sở việc làm và đời sống của CNVC lao động giữ được ổn định và được cải thiện, dân chủ, công khai, công bằng được phát huy, tuyệt đại đa số CNVC lao động Bưu điện tin tưởng đồng tình và ủng hộ sự nghiệp đổi mới của Đảng, Nhà nước và của Ngành, thực hiện đúng phương châm “người Bưu điện sống bằng nghề Bưu điện” gắn bó và tận tụy, cố gắng lao động giỏi hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

Với tình hình trên, Công đoàn Bưu điện Việt Nam đã bám sát và vận dụng sáng tạo các chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo  của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam; gắn kết với các mục tiêu, nhiệm vụ của Ngành để tổ chức phong trào CNVC và hoạt động công đoàn thực sự đi vào quản lý và sản xuất kinh doanh, xây dựng đội ngũ CNVC, chăm lo đời sống và thực hiện chính sách xã hội, đẩy mạnh hoạt động của tổ chức công đoàn đồng thời phối hợp chặt chẽ với chuyên môn, các đoàn thể quần chúng để triển khai  các mục tiêu nhiệm vụ của Nghị quyết Đại hội XI Công đoàn Bưu điện Việt Nam đề ra.

Tuy nhiên đội ngũ CNVC lao động cũng còn bộc lộ những điểm yếu như: trình độ của một bộ phận CNVC chưa ngang tầm với yêu cầu phát triển công nghệ mới; tỷ lệ công nhân lành nghề còn thấp; nhận thức về cạnh tranh hội nhập còn hạn chế, ý thức kinh doanh và phong cách phục vụ tuy đã đổi mới nhưng chưa đáp ứng được đòi hỏi của tình hình mới, năng suất lao động tăng chậm; cá biệt còn một số cá nhân vi phạm pháp luật và các tệ nạn xã hội. Công tác khảo sát, kiểm tra nắm rõ tình trạng lao động chưa được tiến hành đồng bộ do đó việc bố trí hợp lý, đào tạo và đào tạo lại cho phù hợp với yêu cầu đổi mới, tiến hành tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp cho thật sự hiệu quả còn chậm. Đó là những vấn đề cần quan tâm khắc phục trong nhiệm kỳ tới. 

Đánh giá chung: đội ngũ CBCNV lao động Bưu điện đã có bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng; phong trào CNVC và hoạt động của Công đoàn Bưu điện Việt Nam tiếp tục phát huy, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế xã hội trong chiến lược tăng tốc, trong những năm đầu bước vào chiến lược Hội nhập - Phát triển; góp phần tích cực xây dựng giai cấp công nhân giữ vững vai trò là cơ sở chính trị xã hội trọng yếu, là chỗ dựa vững chắc của Đảng và chuyên môn, là lực lượng nòng cốt đi đầu trong sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp CNH - HĐH Bưu chính Viễn thông Việt Nam.

B - Kết quả thực hiện nghị quyết Đại hội XI công đoàn Bưu điện Việt Nam

Đại hội XI Công đoàn Bưu điện Việt Nam đề ra 6 mục tiêu, 5 nhiệm vụ và 10 biện pháp lớn cho cả nhiệm kỳ (1998 - 2003). Qua quá trình tổ chức thực hiện, các mục tiêu nhiệm vụ do Đại hội XI Công đoàn Bưu điện Việt Nam đề ra là đúng đắn, phù hợp với thực tiễn, đáp ứng được nguyện vọng của đoàn viên, của CNVC lao động. Nghị quyết đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, được các cấp công đoàn triển khai thực hiện đạt được kết quả cao trên các lĩnh vực hoạt động.

I - Kết quả thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ chủ yếu

1 - Tổ chức phong trào hành động cách mạng, vận động cán bộ công chức, công nhân viên chức lao động, phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội của ngành từ năm 1998 - 2003

Trong suốt nhiệm kỳ qua, Công đoàn Bưu điện Việt Nam đã chủ động cùng với Lãnh đạo ngành chỉ đạo và tổ chức triển khai đồng bộ 5 cuộc vận động về đăng kí hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao, phấn đấu vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch; cải tiến lề lối quy trình làm việc, cải cách thủ tục hành chính; đổi mới công tác quản lý kinh tế, kĩ thuật, nghiệp vụ; xây dựng văn minh Bưu điện; hoàn thành nhiều công trình sản phẩm tiêu biểu; phát động và tổ chức nhiều phong trào thi đua, nhiều hội thi ngành nghề, nhiều cuộc hội thảo với nội dung thiết thực, phù hợp; tạo thành phong trào hành động sôi nổi, liên tục thu hút được đông đảo CBCNVC tham gia thực hiện.

Hiệu quả của các cuộc vận động, các phong trào thi đua đã tạo nên sự thống nhất cao về nhận thức, động viên được đông đảo CBCNVC lao động tận tuỵ sáng tạo, hàng năm có hàng nghìn sáng kiến cải tiến, đề xuất được nhiều giải pháp tập trung vào các khâu then chốt nhằm thực hiện và nâng cao vai trò quản lý nhà nước, đổi mới điều hành sản xuất kinh doanh, phát triển nhiều dịch vụ mới, đẩy mạnh năng lực công nghiệp, xây lắp; thương mại, huy động được nhiều tiềm năng và nguồn lực, phấn đấu hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch, đạt được tốc độ tăng trưởng bình quân cao, có năm đạt trên 20%.

Cùng với việc tổ chức có hiệu quả 5 cuộc vận động và các phong trào thi đua; tổ chức công đoàn các cấp đã chủ động cùng với chuyên môn phát động và triển khai thực hiện các phong trào về học tập, nâng cao trình độ tay nghề, về an toàn vệ sinh lao động, Trồng cây văn hóa, xây dựng Điểm Bưu điện Văn hóa xã, phục vụ CNH - HĐH nông nghiệp và phát triển nông thôn, đảm bảo an ninh quốc phòng, phòng chống các tệ nạn xã hội… Qua các lần tổng kết, nhiều tập thể và cá nhân đạt thành tích xuất sắc được Tổng Liên đoàn và các Bộ ngành tặng thưởng Cờ, Bằng khen.

Công tác kiểm tra đôn đốc hướng dẫn sơ, tổng kết phong trào thi đua; học tập và nhân điển hình được coi trọng. Đã tham gia với Bộ Bưu chính Viễn thông và Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam bổ xung, sửa đổi và ban hành quy chế thi đua khen thưởng mới và tổ chức thành công Đại hội Thi đua từ cơ sở đến toàn Ngành vào năm 2000.

Về sản xuất kinh doanh và phục vụ

- Đã phát triển nhanh các loại hình dịch vụ Bưu chính, Viễn thông và Công nghệ thông tin, đây là giai đoạn mở được nhiều dịch vụ mới như: Tiết kiệm Bưu điện, Bảo hiểm Bưu điện, Data Post, Điện thoại trả tiền trước, VOI IP, Internet... và các dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng. Sản phẩm của công nghiệp bưu chính, viễn thông trong nước có chất lượng cao, đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu đầu tư phát triển của ngành.

- Tăng cường đầu tư phát triển sử dụng hiệu quả nguồn vốn, thiết bị cơ sở vật chất và các nguồn lực. Năm 2002, doanh thu tăng hơn 2 lần, phát triển máy tăng hơn 3 lần so với năm đầu nhiệm kỳ. Nộp ngân sách từ 1.700 tỷ năm 1997 tăng lên 3.300 tỷ vào năm 2002, đạt mật độ 6,9 máy/100 dân (chỉ tiêu 6 máy trên 100 dân).

- Phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch hàng năm đều trên 1%. Tốc độ tăng trưởng cả giai đoạn đạt bình quân trên 14%. Nhiều chỉ tiêu đạt cao như: Phát triển máy điện thoại tăng 21%, xây dựng điểm Bưu điện văn hoá xã tăng 40%, thuê bao Internet tăng 97% hàng năm.

Về quản lý

- Về đổi mới và nâng cao năng lực quản lý nhà nước: đã xây dựng và trình Chính phủ thông qua được nhiều văn bản Quy phạm pháp luật về bưu chính, viễn thông, đặc biệt Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông là văn bản Quy phạm pháp luật chuyên ngành đầu tiên được Quốc hội ban hành. Đến nay hệ thống các văn bản pháp quy ngày một đầy đủ, tạo hành lang pháp lý để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực Bưu chính, Viễn thông và Công nghệ thông tin, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, đảm bảo sự công bằng, thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển. Vai trò quản lý của Bộ Bưu chính Viễn thông trong quản lý vĩ mô đối với các doanh nghiệp ngày càng được khẳng định.

- Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam tiếp tục phát triển và hoàn thiện theo mô hình Tổng công ty 91, đẩy nhanh quá trình đổi mới tổ chức quản lý theo mô hình tập đoàn kinh tế. Triển khai phương án đổi mới tổ chức quản lý, khai thác kinh doanh bưu chính, viễn thông trên địa bàn 61 tỉnh, thành phố, từng bước hạch toán rõ và riêng hai lĩnh vực bưu chính, viễn thông tiến tới hạch toán độc lập từng lĩnh vực. Tích cực thực hiện phương án sắp xếp lại doanh nghiệp. Trong nhiệm kỳ đã thực hiện cổ phần hóa 10 đơn vị, thành lập mới 4 công ty cổ phần và đang tiếp tục triển khai cổ phần hoá 12 đơn vị. Các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá đều làm ăn có hiệu quả, không có trường hợp nào xảy ra mất việc làm. Công tác kế hoạch, tài chính, đầu tư, quản lý lao động, tiền lương, công tác cán bộ và đào tạo từng bước được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình quản lý sản xuất kinh doanh hàng năm.

Về khen thưởng thi đua

Trong 5 năm qua đã có 5 đơn vị và 2 cá nhân được phong tặng danh hiệu AHLĐ thời kỳ đổi mới; 14 đơn vị được phong danh hiệu AHLLVT; 63 Cờ, 113 Bằng khen của Tổng liên đoàn LĐVN; 97 người được tặng Bằng và Huy hiệu lao động sáng tạo, 318 chiến sĩ thi đua cấp ngành, 72 chiến sĩ thi đua toàn quốc giai đoạn 1996 – 2000; có 90 tập thể, cá nhân được thưởng Huân chương lao động các loại; 133 tập thể cá nhân được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; 1.823 người được nhận Huy chương vì sự nghiệp xây dựng tổ chức công đoàn; Nhiều cá nhân đạt danh hiệu lao động giỏi, phụ nữ “Hai giỏi” các cấp.

Với thành tích và kết quả đạt được đã khẳng định 5 cuộc vận động, các phong trào thi đua, các hội thi ngành nghề, các biện pháp do Đại hội XI Công đoàn Bưu điện Việt Nam đề ra là phù hợp với thực tiễn, tạo được động lực, động viên CBCNVC vượt lên mọi khó khăn thách thức, phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn 1998 - 2003; góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển Bưu chính Viễn thông Việt Nam.

2 - Công tác chăm lo đời sống; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của CNVC lao động; thực hiện các chính sách xã hội

Quán triệt chủ trương đổi mới, tổ chức công đoàn đã tích cực tham gia với chuyên môn đồng cấp xây dựng, bổ xung, điều chỉnh được nhiều cơ chế, chính sách quản lý về bưu chính, viễn thông; kinh tế, kĩ thuật, nghiệp vụ, nhiều quy chế có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người lao động.

Chấp hành chỉ thị số 30/CT của Bộ Chính trị, các nghị định của Chính phủ và chỉ đạo của Đoàn chủ tịch Tổng Liên đoàn; Công đoàn Bưu điện Việt Nam đã chủ động đề xuất, phối hợp với Tổng cục Bưu điện - Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam xây dựng và ban hành quy chế dân chủ cấp ngành, chỉ đạo các đơn vị xây dựng quy chế dân chủ cơ sở; tổ chức tốt Hội nghị cán bộ công chức và Đại hội CNVC. Kết quả hàng năm có 85% các đơn vị mở Hội nghị cán bộ công chức, Đại hội CNVC, 100% các doanh nghiệp ký Thoả ước lao động tập thể. Tổ chức Đại hội đại biểu CNVC lần thứ 2 của Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam vào năm 2001, đã ban hành 14 qui chế nội bộ về: tuyển dụng, đào tạo, phân phối thu nhập, điều dưỡng, chăm sóc sức khoẻ,... Qua kiểm tra, Ban chỉ đạo thực hiện dân chủ cơ sở của Trung ương đã đánh giá cao kết quả thực hiện dân chủ cơ sở trong Tổng cục Bưu điện, Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam  và đánh giá cao vai trò của tổ chức công đoàn trong việc thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ của cán bộ CNVC lao động.

Tổ chức tổng kết 5 năm thực hiện Bộ luật Lao động tại cơ sở; cùng với liên ngành của Trung ương và địa phương làm tốt công tác kiểm tra việc chấp hành Bộ luật Lao động; ban hành, bổ xung, điều chỉnh và triển khai thực hiện có hiệu quả nhiều quy chế trong lĩnh vực lao động; tiền lương, y tế, bảo hộ lao động; đã động viên CNVC làm việc đạt “Năng suất - Chất lượng - Hiệu quả”, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của người lao động. Trong suốt nhiệm kỳ, ngoài sự quan tâm bảo đảm việc làm đã thu hút thêm gần 19.000 lao động mới, tăng năng suất lao động bình quân là 11% năm, mức thu nhập tăng bình quân 7,4% hàng năm, bên cạnh đó đã tạo nhiều việc làm cho lao động xã hội trên các lĩnh vực thu nợ cước phí Bưu điện, Bưu điện văn hoá xã, đại lý điện thoại, kinh doanh thiết bị đầu cuối viễn thông…  

Hàng năm Công đoàn đã phối hợp với Chuyên môn xây dựng và thực hiện kế hoạch bảo hộ lao động, đẩy mạnh phong trào “Xanh – Sạch - Đẹp, bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động”, hưởng ứng có hiệu quả Tuần lễ An toàn vệ sinh lao động do Chính phủ và Tổng liên đoàn LĐVN phát động, quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường, đặc biệt là cải thiện môi trường và điều kiện lao động. Tiếp tục củng cố mạng lưới an toàn vệ sinh viên, phát triển thêm 600 ATVSV đưa tổng số ATVSV lên 5.600 người, hoạt động có hiệu quả góp phần tích cực vào việc bảo đảm an toàn vệ sinh lao động cho người lao động.

Nâng cấp hai Bệnh viện Điều dưỡng phục hồi chức năng, đầu tư xây dựng mới Bệnh viện Bưu điện 1 tại Hà Nội và Bệnh viện Bưu điện 2 tại TP Hồ Chí Minh. Đã hoàn thiện mô hình tổ chức, nhiệm vụ và trang thiết bị y tế cơ sở. Tăng cường công tác quản lý sức khoẻ, quản lý vệ sinh lao động và chế độ nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ và điều dưỡng phục hồi chức năng. Khám sức khoẻ định kỳ hàng năm đạt tỷ lệ 95%, tổ chức điều dưỡng gần 20.000 lượt người/năm; các hoạt động Văn hóa - Văn nghệ - Thể dục thể thao diễn ra sôi nổi và thu hút đông đảo CBCNVC và người lao động tham gia.

Tổ chức triển khai đồng bộ, có hiệu quả các hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện theo chủ trương của Đảng, Nhà nước, của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và các chính sách xã hội của ngành đã ban hành. Từ nguồn đóng góp của CBCNVC quỹ hỗ trợ và khuyến khích Bưu điện hàng năm đã chi hàng chục tỷ đồng để thực hiện chính sách xã hội, bao gồm thực hiện trợ cấp thường xuyên cho 4 đối tượng chính sách của ngành, xây dựng nhà tình nghĩa, tình thương, tặng sổ tiết kiệm và nuôi dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng, tìm hài cốt đồng đội, xây dựng và chỉnh tu Đài tưởng niệm và Nghĩa trang liệt sĩ Bưu điện. Tham gia đóng góp cho chương trình “Xoá đói giảm nghèo” ủng hộ CBCNVC và nhân dân các vùng bị thiên tai, đóng góp vào quỹ Tấm lòng vàng của Báo Lao động và nhiều địa chỉ nhân đạo từ thiện trong cả nước. Cùng với chuyên môn ban hành Nghị quyết liên tịch về việc kết thúc quỹ Hỗ trợ nhà ở, thực hiện chi trả cho trên 50.000 CBCNV, đồng thời sửa đổi quy chế đóng góp và sử dụng quỹ chính sách xã hội cho phù hợp với tình hình của giai đoạn mới; tổ chức thành công Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện chính sách xã hội của toàn ngành.

VĂN HÓA VNPT

   

VNPT là doanh nghiệp có bề dày truyền thống gắn liền với lịch sử, truyền thống của ngành Bưu điện Việt Nam, một truyền thống hào hùng, vẻ vang được xây đắp nên bởi mồ hôi và cả xương máu của các thế hệ người Bưu điện và được đúc kết bởi 10 chữ Vàng “Trung thành - Dũng cảm - Tận tuỵ - Sáng tạo - Nghĩa tình”.

Với truyền thống ấy, ngành Bưu điện và VNPT đã làm nên kỳ tích tăng tốc phát triển, hiện đại hóa Bưu chính Viễn thông Việt Nam ngang tầm thế giới, được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận là ngành đi đầu trong sự nghiệp Đổi mới.

Trước những thách thức của cạnh tranh và hội nhập quốc tế, VNPT đã và đang nỗ lực vượt bậc để trở thành Tập đoàn kinh tế VT-CNTT và Truyền thông hàng đầu Việt Nam, có uy tín trên trường quốc tế, tiếp nối xứng đáng truyền thống vẻ vang của Ngành.

Nội lực nền tảng để thực hiện được những mục tiêu đó chính là Văn hóa VNPT – những giá trị đã được kết tinh từ năm 1945 đến nay và bây giờ tinh thần cốt lõi là “VNPT – Cuộc sống đích thực”, bao gồm tạo dựng con người VNPT đích thực, xây dựng môi trường VNPT đích thực, làm ra sản phẩm VNPT đích thực. Với mục tiêu và ý nghĩa đó, VNPT ban hành Sổ tay Văn hóa: “VNPT – Cuộc sống đích thực” để "Lãnh đạo tiên phong, trên dưới đồng lòng" vì "Mái nhà chung VNPT" phát triển nhanh, vượt trội, bền vững.

Địa chỉ liên kết