Các kỳ Đại hội CĐBDVN

Phát Biểu Của Đ/c Vũ Văn Luân, Bí thư BCS Đảng, Chủ tịch HĐQT Tổng Công Ty BCVT Việt Nam tại Đại hội CÔNG đoàn Bưu Điện Việt Nam Nhiệm Kỳ XII (2003 - 2008)

Thứ Tư, 05/01/2005, 14:35

Kính thưa: Đ/c Phạm Thế Duyệt - Chủ tịch Đoàn chủ tịch, UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam                Đ/c Nguyễn An Lương – Phó Chủ tịch thường trực Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam.Các đồng chí Lãnh đạo Tổng liên đoàn LĐVN, Bộ Bưu chính, Viễn thông, Công đoàn Bưu điện Việt Nam và Tổng công ty Các vị khách quý, kính thưa đại hộiNhiệm kỳ 2003 - 2008 đang tới, cũng là giai đoạn có bối cảnh mới, có nhiều tác động mới trong hội nhập và phát triển. Như chúng ta đã biết  trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông, theo hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, từ 10/12/2003 các công ty Hoa Kỳ được phép thành lập liên doanh với tỷ lệ góp vốn tới 50% để cung cấp dịch vụ Viễn thông giá trị gia tăng; từ 10/12/2004 cung cấp dịch vụ Internet; từ 10/12/2005 các công ty Hoa Kỳ được lập liên doanh cung cấp các dịch vụ Viễn thông cơ bản với tỷ lệ góp vốn tới 49% để cung cấp các dịch vụ điện thoại cố định, nội hạt, đường dài trong nước và quốc tế.

Như vậy, trong nhiệm kỳ tới, đối với hoạt động Bưu chính Viễn thông, cũng là thời kỳ mà lộ trình các công ty Viễn thông nước ngoài được phép hoạt động trực tiếp trên thị trường Việt Nam từ dịch vụ giá trị gia tăng khởi đầu tháng 12/2003 tới toàn bộ các dịch vụ Viễn thông vào tháng 12/2007. Đồng thời các mặt hoạt động khác cũng diễn ra tương tự, có mặt mạnh hơn. Có thể nói đây là nhiệm kỳ với tác động hội nhập kinh tế quốc tế thực thụ và trực tiếp trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông và Công nghệ thông tin; Do vậy bên cạnh tác động tích cực là thời cơ thúc đẩy, một động lực thúc đẩy sự phát triển Bưu chính, Viễn thông và Công nghệ thông tin Việt Nam, mặt khó khăn thách thức kèm theo vô cùng lớn và phức tạp, đòi hỏi sự phấn đấu nỗ lực đầy trí tuệ mới khắc phục được nguy cơ rủi ro và giành thắng lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế.

Kính thưa các đồng chí!

Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước; Sự hỗ trợ động viên, phối hợp giúp đỡ tạo điều kiện của các cơ quan, đoàn thể, ban ngành ở Trung ương và Địa phương; Bưu chính Viễn thông trong cả nước nói chung và Tổng công ty BCVTVN nói riêng, trong những năm qua có sự phát triển mạnh mẽ  cả về lượng và chất, cả về mạng lưới cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ và dịch vụ, một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh sự phát triển đó là số máy điện thoại trên 100 dân số cuối năm 2002 đã đạt 7 máy và khoảng cuối năm 2003 đạt xấp xỉ 8 máy, so với chỉ tiêu 7 đến 8 máy /100 dân Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 9 giao cho tới năm 2005, toàn Ngành đã phấn đấu thực hiện chỉ tiêu này vượt trước được 2 năm. Và nhiều loại hình dịch vụ mới được đưa vào phục vụ trên thực tiễn đã khẩn trương đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước. Hệ thống cước phí các dịch vụ liên tục giảm tạo điều kiện cho mọi hoạt động nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội. Môi trường hoạt động trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông trong  những năm qua cũng đi vào thực hiện các bước chuyển hoá, thúc đẩy đổi mới, chuẩn bị điều kiện cho bước hội nhập kinh tế quốc tế đạt hiệu quả thắng lợi.

Thay mặt cho lãnh đạo Tổng công ty Bưu chính, Viễn thông Việt Nam tôi xin cảm ơn về sự cộng tác và phối hợp chặt chẽ giữa Công đoàn Bưu điện Việt Nam với Tổng công ty trong suốt nhiệm kỳ qua. Xin chúc mừng những kết quả, thành tích mà cán bộ công nhân viên toàn Tổng công ty đã phấn đấu đạt được trong nhiệm kỳ 1998 - 2003 vừa qua và hoàn toàn nhất trí các nội dung báo cáo trình Đại hội, chúng ta đã đạt được bước tiến rất đáng tự hào. Song, so với yêu cầu đã đặt ra khá bức xúc, trên thực tế hiện nay và tương lai gần, những kết quả đã đạt được còn chưa ngang tầm, đòi hỏi sự phấn đấu nỗ lực rất lớn trong những năm tới của mỗi người, mỗi đơn vị tổ chức và toàn đội ngũ lao động.

Trong Đại hội quan trọng này, tôi xin nêu một số ý kiến để Đại hội tham khảo, trao đổi, xây dựng nội dung: “Hoạt động công đoàn trong giai đoạn phát triển mới”.

Kính thưa các đồng chí!

Trong giai đoạn phát triển đang tới, chúng ta nằm trong bối cảnh kinh tế thế giới “bùng nổ đổi mới”, kinh tế tri thức dần hình thành mà đặc điểm của nó tác động nhanh và mạnh tới kinh tế hàng hoá truyền thống - cơn lốc Công nghệ thông tin mới cuốn chúng ta tới nền “kinh tế số” rất mãnh liệt. Tại những vùng đang phát triển, cơn lốc nag vừa là nguy cơ vừa là cơ hội để bốc cao kịp các nước phát triển trước để cùng hoạt động trong nền kinh tế tri thức.

Tôi xin phép nêu vài vấn đề liên quan tới tác động của hoạt động công đoàn và tổ chức công đoàn các cấp với sự đổi mới phù hợp và mạnh mẽ sẽ thúc đẩy tốc độ phát triển.

1. Về vấn đề lao động:

Trong nền kinh tế mới, “lao động tri thức” thay cho “lao động truyền thống”, nội dung trí tuệ trong sản phẩm, dịch vụ sẽ ngày càng tăng nhanh; người lao động ứng dụng tri thức và tính sáng tạo để tạo ra giá trị, tri thức có chức năng vốn, tài sản thực thụ; người lao động là nhà kinh doanh, là nhà sản xuất và việc nâng cao kiến thức một cách có tổ chức của mỗi người, mỗi nhóm, mỗi tập thể lao động, trong suốt quá trình hoạt động là ưu thế cạnh tranh ổn định duy nhất. Vấn đề nâng cao và mở rộng kiến thức của đội ngũ lao động là công việc cực kỳ thiết yếu và với vai trò bảo vệ lợi ích của người lao động của tổ chức công đoàn, tất yếu phải coi đó là công việc thiết yếu hàng đầu. Trước tiến trình đổi mới như vũ bão của kinh tế toàn cầu, tổ chức công đoàn cần khẩn trương xây dựng (và hỗ trợ tổ chức thực hiện) kế hoạch nâng cao và mở rộng kiến thức cho người lao động  phù hợp và kịp thời các bước phát triển.

Công đoàn chúng ta hoạt động trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông và Công nghệ thông tin là lĩnh vực tiếp cận, đồng thời là cơ sở hạ tầng, của kinh tế tri thức, kinh tế số hoá, hội tụ hoá, toàn cầu hoá, ảo hoá và tích hợp mạng, nhiệm vụ nâng cao nhanh năng lực của đội ngũ lao động trong đó nâng cao và mở rộng kiến thức song song với bản lĩnh chính trị càng trở lên bức bách tới cấp độ sống còn.

2. Về vấn đề đổi mới:

Lịch sử phát triển nhân loại là lịch sử đổi mới như chúng ta đều biết, từ khi kinh tế hái lượm đến công nghiệp, hậu công nghiệp và đến nay mon men tới buổi bình minh của kinh tế tri thức. Song cấp độ và tốc độ đổi mới các hình thái kinh tế xã hội rất khác nhau; trong giai đoạn hiện nay và sắp tới có cấp độ và tốc độ lớn chưa từng có trong lịch sử nhân loại, ví dụ điển hình trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông và Công nghệ thông tin, chu kỳ sản phẩm và dịch vụ ngày càng ngắn, “đời” sản phẩm từ 10 năm xuống 5 năm, 3 năm, 1 năm rồi 6 tháng, 3 tháng; lượng sản phẩm dịch vụ mới ra đời hàng ngày. (Trong lĩnh vực tài chính, có sản phẩm dịch vụ có chu kỳ giả định tính theo đơn vị giờ).

Để có năng lực giành thắng lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế, trong hơn 10 năm qua, Đảng và Nhà nước đã vạch ra và thực hiện chủ trương và biện pháp tích cực nhằm đổi mới nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó đội quân chủ lực là doanh nghiệp Nhà nước đã góp phần chủ yếu để kinh tế Nhà nước thực hiện được vai trò chủ đạo, ổn định và phát triển kinh tế xã hội, thực hiện các chính sách xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai và bảo đảm nhiều sản phẩm dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội, quốc phòng, an ninh. Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá 9 đã ra nghị quyết về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước với quan điểm chỉ đạo: “Kinh tế nhà nước có vai trò quyết định trong việc giữ vững định hướng Xã hội chủ nghĩa, ổn định và phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước; doanh nghiệp Nhà nước (bao gồm cả doanh nghiệp  mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối) phải không ngừng đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả”.

Thực hiện Nghị quyết TW 3, Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam đã nỗ lực triển khai sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả; trong đó sắp xếp đổi mới tổ chức quản lý đã có bước tiến mạnh như bóc tách Bưu chính, Viễn thông để hạch toán riêng và rõ từng dịch vụ, xây dựng cơ chế quản lý mới, đầu tư công cụ quản lý ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện cổ phần hoá một số đơn vị và bộ phận,… Song so với yêu cầu về cấp độ và tốc độ còn thấp, thời gian tới cần nỗ lực và khẩn trương gấp bội; sắp xếp và đổi mới chỉ có thể thành công khi có sự phối hợp đồng bộ, chung lưng đấu cật của toàn đội ngũ lao động trong tổ chức công đoàn, tạo nên sức mạnh tổng hợp. Với các chương trình cụ thể, kế hoạch phối hợp cụ thể, tổ chức hoạt động công đoàn các cấp, mỗi cá nhân người lao động cần nhận thức rõ, được nâng cao kiến thức, sáng tạo trong từng việc mới có thể thực hiện thành công các ý tưởng đổi mới trong các khâu và đạt mục tiêu đổi mới trong tổng thể, mang lại hiệu quả cao - Đổi mới không chỉ là ý tưởng mới cho sản phẩm mới, dịch vụ mới (sản phẩm bao gồm cả sản phẩm về cơ chế quản lý: quy trình, tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất…) mà còn là “những suy nghĩ về giải pháp mới cho vấn đề cũ, chống kiểu làm theo lối mòn hoặc thành phản xạ vô thức.

Công đoàn Bưu điện Việt Nam hiện nay là một tổ chức công đoàn Ngành thực hiện cả chức năng công đoàn doanh nghiệp; thành viên bao gồm cả bộ phận quản lý Nhà nước và quản lý sản xuất kinh doanh; Trong giai đoạn mới, việc đổi mới tổ chức cho phù hợp giai đoạn phát triển mới là vấn đề rất lớn. Song song với việc chủ động nghiên cứu đề xuất các phương án, cần đề nghị Tổng liên đoàn lao động Việt Nam có chương trình nghiên cứu chỉ đạo chặt chẽ trong nhóm chuyên đề hoặc chuyên đề riêng.

3. Về vấn đề quan hệ:

Giữa các nhóm người lao động trong cộng đồng, trong sự hợp tác cạnh tranh, điều khiển hợp tác - cạnh tranh, sản xuất tiêu thụ.

Kính thưa các đồng chí!

Trong nền kinh tế của chúng ta, phát triển theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, việc vận dụng xử lý quy luật kinh tế cần đề cập đến các nhóm mối quan hệ, tôi xin phép nêu một nhóm mối quan hệ rất cần sự quan tâm phối hợp của tổ chức công đoàn, đó là nhóm quan hệ giữa người lao động có chức năng đặc trưng khác nhau song lại liên kết khăng khít đó là:

- Người lao động tạo dịch vụ, sản phẩm không độc quyền.

- Người lao động sử dụng sản phẩm dịch vụ

- Người lao động tạo môi trường sản xuất - tiêu thụ

Trước hết, quan hệ giữa người tạo ra sản phẩm, dịch vụ không độc quyền, yếu tố cạnh tranh tất nổi trội; trong giai đoạn phát triển hiện tại và tương lai gần của thị trường Bưu chính Viễn thông, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước còn thấp, bề dầy kinh nghiệm và lực của các doanh nghiệp nước ngoài trên tầm khá xa thì “cạnh tranh trong khuôn khổ hợp tác” cần được đề cập, tất cả những cá nhân, đơn vị trong cả nước tham gia và tạo ra sản phẩm, dịch vụ Bưu chính Viễn thông và Công nghệ thông tin cần ý thức được một cách thống nhất phạm trù “cạnh tranh trong khuôn khổ hợp tác”, hợp tác là cơ bản để tạo sức mạnh tổng hợp của Việt Nam - Cạnh tranh là chất xúc tác đổi mới, khai thác và giải phóng nội lực. Để toàn thể những người lao động thống nhất hành động, đồng hướng chung phương, vai trò tổ chức công đoàn hết sức to lớn.

Về quan hệ người lao động tạo dịch vụ, sản phẩm với người lao động sử dụng sản phẩm, dịch vụ; trong xu hướng phát triển kinh tế mới, sản phẩm và dịch vụ này là cơ sở hạ tầng cho sản phẩm dịch vụ khác và tích  hợp các sản  phẩm, dịch vụ với nhau lại tạo ra các giá trị mới ngày càng tăng và nở ra trong vũ trụ.

Mặt khác, khách hàng với nhu cầu, thị hiếu, “khẩu vị”, yêu cầu cả sáng kiến,… đặt ra cho nhà cung cấp, kiểm tra, tiếp nhận sản phẩm, dịch vụ và ngày càng sát với nhà cung cấp, thực chất đã tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ, khoảng cách giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng ngày càng hẹp, chỉ giới ngày càng mờ nhạt. Hai đặc điểm này cũng là nhân tố tất yếu làm cho quan hệ giữa người lao động tạo ra sản phẩm, dịch vụ và người lao động sử dụng sản phẩm dịch vụ phải đổi mới, quan hệ mới thay thế cho quan hệ mua - bán truyền thống. Tác động của các tổ chức công đoàn, tổ chức của những người lao động rất cần thiết và có thể đi trước một bước để tạo điều kiện và thúc đẩy nhanh đổi mới này, sự liên kết hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức công đoàn và sự chủ động sáng tạo lập hoặc gia tăng sự liên kết hợp tác, phối hợp hành động của Công đoàn Bưu điện Việt Nam với các tổ chức công đoàn ngành nghề khác cũng sẽ là tác nhân quan trọng cho sự phát triển Bưu chính Viễn thông và Công nghệ thông tin.

Về quan hệ giữa người lao động tạo môi trường sản xuất - tiêu thụ với người lao động là “nhà sản xuất kinh doanh” và người lao động là “người tiêu thụ, sử dụng sản phẩm, dịch vụ”. Trong xu hướng phát triển kinh tế mới, đội ngũ lao động quản lý tạo môi trường có tác động rất to lớn và có vai trò vô cùng quan trọng mang tính quyết định; tạo dựng sức mạnh tổng hợp, hoặc ngược lại, triệt tiêu các nguồn lực.

Sức mạnh của các nhà sản xuất kinh doanh và sức mạnh của người tiêu thụ sử dụng sản phẩm dịch vụ, hợp thành sức mạnh có tổ chức và được tổ chức bởi người lao động tạo môi trường sản xuất – tiêu thụ những người lao động quản lý nhà nước, quản lý cộng đồng. Do vậy, sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng và nghiêm túc giữa các khối người lao động là điều kiện hết sức thiết yếu cho sự phát triển trong giai đoạn mới. Các tổ chức Công đoàn trong sự chỉ đạo chung của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, dưới sự chỉ đạo đầy trí tuệ của Đảng rất có điều kiện thực hiện (và phải thể hiện) vai trò của mình trong việc thúc đẩy, hỗ trợ, chuyển hoá các mối quan hệ của người lao động để phát huy các nguồn lức tạo sức mạnh tổng hợp trong giai đoạn phát triển mới.

Kính thưa các đồng chí!

Trong khuôn khổ có hạn, tôi xin đóng góp một số ý kiến nêu trên để các đồng chí tham khảo và trao đổi. Xin kính chúc Đại hội đạt kết quả cao, chúc các đồng chí sức khoẻ và trí tuệ dồi dào.

                                                 Xin chân thành cảm ơn!

VĂN HÓA VNPT

   

VNPT là doanh nghiệp có bề dày truyền thống gắn liền với lịch sử, truyền thống của ngành Bưu điện Việt Nam, một truyền thống hào hùng, vẻ vang được xây đắp nên bởi mồ hôi và cả xương máu của các thế hệ người Bưu điện và được đúc kết bởi 10 chữ Vàng “Trung thành - Dũng cảm - Tận tuỵ - Sáng tạo - Nghĩa tình”.

Với truyền thống ấy, ngành Bưu điện và VNPT đã làm nên kỳ tích tăng tốc phát triển, hiện đại hóa Bưu chính Viễn thông Việt Nam ngang tầm thế giới, được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận là ngành đi đầu trong sự nghiệp Đổi mới.

Trước những thách thức của cạnh tranh và hội nhập quốc tế, VNPT đã và đang nỗ lực vượt bậc để trở thành Tập đoàn kinh tế VT-CNTT và Truyền thông hàng đầu Việt Nam, có uy tín trên trường quốc tế, tiếp nối xứng đáng truyền thống vẻ vang của Ngành.

Nội lực nền tảng để thực hiện được những mục tiêu đó chính là Văn hóa VNPT – những giá trị đã được kết tinh từ năm 1945 đến nay và bây giờ tinh thần cốt lõi là “VNPT – Cuộc sống đích thực”, bao gồm tạo dựng con người VNPT đích thực, xây dựng môi trường VNPT đích thực, làm ra sản phẩm VNPT đích thực. Với mục tiêu và ý nghĩa đó, VNPT ban hành Sổ tay Văn hóa: “VNPT – Cuộc sống đích thực” để "Lãnh đạo tiên phong, trên dưới đồng lòng" vì "Mái nhà chung VNPT" phát triển nhanh, vượt trội, bền vững.

Địa chỉ liên kết